Ảnh hưởng của tài nguyên khu vực đối với qui mô đô thị

đô thị hoá là quá trình tụ hội trên không gian dân số và kinh tế nhằm mục đích thu được hiệu quả tụ hội lớn hơn. Rất rõ ràng sự hình thành của hiệu quả tụ hội cần lấy qui mô dân số và qui mô kinh tế nhất định làm tiền đề.

qui mô đô thị thường được biểu hiện là qui mô dân số và qui mô chiếm đất của đô thị. Vì vậy, chỉ tiêu đánh giá qui mô đô thị cũng thường sử dụng qui mô dân số đô thị và qui mô chiếm đất của đô thi. Trong đó, chỉ tiêu qui mô dân số có ý nghĩa quan trọng hơn chỉ tiêu qui mô chiếm đất; đại bộ phận tài liệu thống kê đô thị trong và ngoài nước đều dùng qui mô dân số làm chỉ tiêu đánh giá qui mô đô thị.

Sự hình thành và phát triển qui mô của một đô thị chịu sự chế ưđc và ảnh hưởng của nhiều nhân tố, đồng thời nó là một quá trình tích luỹ từng bưđc. Nhân tố chi phối qui mô phát triển của đô thị bao gồm các mặt lịch sử, tự nhiên và xã hội. Trong đó, chủ yếu là các nhân tố sau đây:

Ảnh hưởng của tài nguyên khu vực đối với qui mô đô thị

Tài nguyên khu vực là tổng hoà các tài nguyên có thể sử dụng trong môi trường tự nhiên nơi đô thị đóng, nó quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của đô thị, chủ yếu là các tài nguyên về đất, nưđc và năng lượng.

a. Tài nguyên đất đai

Tài nguyên đất đai có tác dụng chế ước đối vđi qui mô đô thị nói chung sẽ phát sinh trong hai trường hợp:

Thứ nhất, đất đai dùng để mở rộng xây dựng đô thị chịu sự hạn chế của núi cao, sông ngòi, ao hồ xung quanh, hoặc chịu sự hạn chế của tài nguyên phong cảnh, ruộng lúa cao sản, sân bay, di tích văn hoá vùng phụ cận. Trong tình hình đó, đất đai trở thành nhân tố tương đối trực tiếp chế ước qui mô đô thị. Các nhân tố này hoặc không thể khắc phục được, hoặc phải bằng giá thành tương đối lớn mới có thể khắc phục.

Thứ hai, trường hợp qui mô đô thị hoá quá lớn, việc sử dụng đất đai nội bộ doanh nghiệp sẽ căng thẳng, từ đó hạn chế sự phát triển các mặt và mở rộng qui mô dân số của đô thị đó. Trong tình hình sử dụng đất đai trong đô thị lớn căng thẳng, giá đất sẽ tăng cao, đó là nội dung của “bệnh đô thị quá lớn”. Sự căng thẳng thiếu thốn tài nguyên đất đai, làm cho bản thân đô thị không thể bố trí đây đủ các công trình đô thị, để giải quyết các vấn đê căng thẳng nhà ở, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường.

Trong hai trường hợp đó, tài nguyên đất đai của khu vực đô thị có ảnh hưởng nhiều đến qui mô phát triển đô thị. Nhưng nói chung, tình hình tài nguyên đất đai đô thị không thể trực tiếp quyết định sự lớn nhỏ của qui mô đô thị, mà thường là sự lớn nhỏ của qui mô dân số đô thị ảnh hưởng đến qui mô sử dụng đất đai đô thị. Vì vậy, khi phân tích qui mô đô thị, ta chỉ có thể coi tài nguyên đất đai là nhân tố tham khảo.

b. Tài nguyên nước

So với tài nguyên đất đai, tài nguyên nưđc có ảnh hưởng càng Iđn đối với qui mô đô thị, đặc biệt là đối với khu vực khô khan hoặc nửa khô khan, tình hình phong phú của nguồn nước thường trên mức nhất định quyết định dung lượng của đô thị. Cái gọi là dung lượng của đô thị, là chỉ qui mô dân số hợp lý mà một đô thị có thể dung nạp được trong một thời gian nhất định, nó được qui định bởi các nhân tố điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, thực lực kinh tế và kết cấu hạ tầng. Đối với các đô thị khác nhau về tính chất, điều kiện xây dựng và cơ sở xây dựng khác nhau, trình độ phát huy tác dụng của nguồn nước sẽ khác nhau. Chẳng hạn, đối với nhiều đô thị lđn miền Bắc Trung Quốc mà nói, điều kiện nguồn nưđc để xây dựng đô thị thường có tác dụng chế ước tương đối lớn đối với qui mô phát triển của đô thị.

Nhu cầu dùng nước của đô thị, chủ yếu bao gồm nưđc dùng cho công nghiệp đô thị, nước dùng cho sinh hoạt dân cư đô thị và nước dùng cho nông nghiệp ngoại ô. Trường hợp qui mô đô thị quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của nguồn nước nơi đô thị đóng, sẽ dẫn đến việc cung cấp nước không đủ, do đó mà ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế đô thị, gây ra tình trạng suy thoái chất lượng môi trường và chất lượng cuộc sống của dân cư đô thị. Đồng thời giá thành cấp nước sẽ tăng lên từng bước theo sự mở rộng của qui mô đô thị. Thí dụ thành phố Hà Nội, nguồn nước ngầm dưới mặt đất bị khai thác quá mức, độ sâu của giếng nước tăng cao, lượng nước chảy ra yếu đi, thành phố có chú trọng phát triển nguồn nước ra ngoại ô, song số vốn đầu tư lớn và thời gian thi công kéo dài, đến nay lượng nước khai thác hàng ngày vẫn chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của thành phố.

Đặc biệt đối với các đô thị lớn mà ngúồn nước không đủ, mâu thuẫn cung cầu về nước căng thẳng, mở rộng qui mô đô thị dẫn đến làm tăng nhu cầu về nước sẽ làm cho mâu thuẫn trên thêm gay gắt, thì đương nhiên, sự mở rộng qui mô đố thị sẽ chịu sự ràng buộc của nguồn nước không đủ. Như vậy ta thấy, khi qui hoạch qui mô dân số và qui mô phát triển kinh tế của một đô thị, cần phải xem xét dầy đủ khả năng cung cấp nguồn nước của khu vực nơi đô thị đóng.

c. Tài nguyên năng lượng

Tài nguyên năng lượng cũng có ảnh hưởng nhất định đối với qui mô phát triền đô thị, nó chủ yếu gồm có than đá, dầu mỏ, điện lực.

Đô thị là một cơ thể sống, cần phải dựa vào sự cung ứng các nguồn năng lượng để tồn tại và phát triển. Ớ thời kỳ đầu của đô thị hoá, khi mà kinh tế kỹ thuật, giao thông còn chưa phát triển, thường nhứng nơi có nguồn năng lượng tương đối phong phú, qui mô hình thành của đô thị cũng tương đối lớn. Nhưng, nguồn năng lượng có tính vận chuyển tương đối mạnh, đặc biệt là năng lượng hiện đại của đô thị lấy điện năng làm chủ, giá thành vận chuyển tương đối thấp, do vậy nguồn năng lượng không phải là nhân tố hạn chế nghiêm khắc đối với qui mô phát triển của đô thị. Khi nguồn năng lượng của đô thị cung cấp không đủ, có thể chuyển đến từ khu vực có nguồn năng lượng cung cấp phong phú. Tuy vậy, trong một thời kỳ nhất định, nếu trong một khu vực có phạm vi tương đối lđn mà việc cung cấp năng lượng bị căng thẳng một cách phổ biến, thì không thể không ảnh hưởng đến sự phát triển đô thị, chế ưđc trình độ và tốc độ phát triển qui mô của đô thị.