Cơ chế quản lý tài chính đô thị

Cơ chế quản lý tài chính đô thị

a. Các mô hình về cơ chế quản lý tài chính đô thị

Cơ chế quản lý tài chính đô thị là một bộ phân cấu thành quan trọng của cơ chế quản lý kinh tế đô thị, và cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của cơ chế quản lý tài chính quôc gia. Nó là chế độ phân chia quyền hạn, trách nhiệm quản lý tài chính và phạm vi thu chi ngân sách tài chính giứa trung ương và đô thị, giứa chính quyền tỉnh và đô thị, giứa đô thị và doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp.

Cơ chế quản lý tài chính đô thị nước ta đã không ngừng biến đổi trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội đô thị. Xét về mối quan hệ giữa trung ương với đô thị, nói chung từ trung ương tập trung cao độ thống nhất quản lý thu chi từng bước chuvến dịch theo hưđng thống nhất lãnh đạo, phân cấp quản lý. Trong hiện thực đã tồn tại hai mô hình cơ bản về cơ chế quản lý tài chính đô thị

a1. Cơ chế kế hoạch tập trung cao độ

Từ năm 1985 trở về trưđc, hệ thống tài chính đô thị nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch tập trung cao độ, biểu hiện ở các mặt sau:

  • Tài chính là công cụ phục vụ cho kế hoạch, không thực hiện được chức năng điều tiết và kiểm soát nền kinh tế

Trong một thời gian dài ở nước ta, tính kế hoạch được đề cao quá mức, coi là đăc trưng số 1 của quản lý kinh tế XHCN. Kế hoạch được coi là “cương lĩnh thứ hai của Đảng”, là “pháp lệnh của Nhà nước”. Đi đôi với tính kế hoạch là tính hiện vật của nền kinh tế, cân đối kế hoạch không lấy tiền tệ mà lấy hiện vật làm chủ yếu.

Trong tình hình đó, tài chính là công cụ phục vụ cho kế hoạch. Một khi đã có chỉ tiêu kế hoạch nhà nước thì tài chính phải cấp vốn và ngân hàng phải cho vay vốn với lái suất thấp để thực hiện kế hoạch; cái đó làm cho công cụ tài chính, tiền tệ bị vô hiệu hóa đến mưc tối đa, không còn tác dụng điều hoà, điều tiết và kiểm kê, giám sát hên kinh tế.

  • Tài chính không thực hiện được đay đủ chức năng phàn phối thu nhập quốc dân

Trong cơ chế kế hoạch tập trung cao độ, ngân sách đô thị chủ yếu được sử dụng để bù giá, bù lỗ, bù chênh lệch xuất nhập khẩu và trả lương cho bộ máy hành chính. Trong tổng thu ngân sách đô thị, thu thuế chỉ chiếm khoảng 30%, còn lại là thu quốc doanh.

Doanh nghiệp chỉ là đơn vị thừa hành, không có quyền tự chủ về sản xuất, kinh doanh: Tiến hành sản xuất theo kế hoạch; giá thành, giá cả, lợi nhuận định theo kê’ hoạch; sản phẩm bán ra theo kế hoạch và theo địa chỉ mà cấp trên cho phép; lỗ được ngân sách đô thị cấp bù, lãi phải nộp vào ngân sách đô thị theo cơ chế “Thu đủ, chi đủ”.

  • Tài chính trở thành một công cụ để tạo ra các ngùôn thu giả tạo trong lạm phát

Một mặt, chính quyền đô thị sử dụng công cụ tài chính để tạo ra các nguồn thu giả tạo như thu quốc doanh, thu chênh lệch giá … Hễ có sản phẩm được sản xuất ra là phải nộp ngân sách, mặc dù sản phẩm đó vẫn còn nằm trong kho, không được thị trường chấp nhận.

Mặt khác, ngân sách hàng năm được bố trí một cách chủ quan, duy ý chí theo nguyên tắc bội chi năm sau cao hơn năm trưđc, dùng phát hành để bù đắp cho thâm hụt ngân sách. Chính cái đó đã góp phần làm bùng nổ cuộc lạm phát phi mã ở nước ta vào năm 1988.

  • Tài chính địa phương, trong đó có tài chính đồ thị, hoàn toàn lệ thuộc vào tài chính trung ương

Đây là một đặc điểm lđn nhất mà cũng là một nhược điểm của cơ chế kế hoạch tập trung cao.

Vốn mà tài chính trung ương và tài chính địa phương phân phối tuy đêu là vốn tài chính của Nhà nưức XHCN, nhưng tài chính địa phương hoàn toàn lệ thuộc vào tài chính trung ương, hành vi thu chi của tài chính địa phương được tiến hành dưới sự chỉ đạo và theo qui phạm của tài chính trung ương, quyền tài chính của tài chính đô thị lại càng bị động và thu hẹp. Bởi lẽ, tài chính đô thị chỉ là một bộ phận của tài chính tỉnh, huyện.

Các đô thị do không có quyền tự chủ về tài chính, nên không tích cực tìm biện pháp có hiệu quả để tăng thu giảm chi, nâng cao tiềm lực tài chính đô thị nhằm đẩy mạnh công cuộc xâv dựng và phát triển đô thị theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

a2. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Sau khi có nghị quyết TW6 (khoá VI) với chủ trương

kiên quyết đổi mđi quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, nền kinh tế tài chính nước ta nói chung và đô thị nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã từng bước được hình thành để thay thế cơ chế kế hoạch tập trung cao độ. Các biện pháp kinh tế, tài chính được tập trung vào chống lạm phát như điều chỉnh lãi suất ngân hàng, xoá bỏ tỷ giá kế toán nội bộ, cải cách hệ thông thuế, chuyển cung cấp sang kinh doanh vật tư, lương thực, thắt chặt chỉ tiêu ngân sách, tăng cường vay dân, giảm tỷ trọng phát hành … do đó đã đẩy lùi được lạm phát từ gần 500% năm 1986, xuống còn 34,8% năm 1989.

Từ năm 1991 trở lại đây, tiếp tục thực hiện dường lối của Đại hội VII và Đại hội VIII, ngành tài chính nước ta, trong đó có tài chính đô thị, đá xây dựng một hệ thống thuế hoàn chỉnh với nhiều sắc thuế khác nhau, bao gồm phần lớn các nguồn thu và diện thu. Bộ máy thu thuế cũng được thiết lập thống nhất từ trung ương xuống địa phương. Công tác quản lý, cấp phát chi ngân sách được đổi mới theo hướng tập trung các khoản chi dầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tàng kỹ thuật và các công trình then chốt, chú trọng các khoản chi trả nợ, chi dự trứ nhà nước, chi về đầu tư cho y tế, giáo dục … Quản lý chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước, phần thâm hụt của chi dầu tư được trang trải bằng các khoản vay trong và ngoài nước, chấm dứt tình trạng dựa vào phát hành đế bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.

Thời gian qua cơ chế quản lý tài chính đô thị nước ta đã từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, song vẫn còn một số vấn đề vẫn còn chưa được nghiên cứu giải quyết. Đó là:

–  Cơ chế quản lý tài chính đô thị hiện hành về cơ bản vẫn được xây dựng theo hình thức khép kín với sự phân chia trách nhiệm, quyền hạn theo quan hệ hành chính lệ tnuộc. Cơ chế này gây khó khăn cho việc mở rộng liên hệ kinh tế theo chiều ngang, hạn chế tác dụng điều tiết và kiểm soát của tài chính đô thị đối với sự phát triển của kinh tế đô thị.

–  Cơ chế tài chính đô thị hiện hành thiếu tính độc lập và ổn định. Quyền tự chủ quản lý thu chi chỉ được giới hạn trong một phạm vi nhỏ hẹp. Do vậy, làm cho tài chính đô thị không có đủ quyền lực và thực lực để phát huy vai trò cần có của mình trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị và điều chỉnh bố cục không gian đô thị.

–  Cơ chế tài chính dô thị hiện hành chưa được chuyến mạnh sang loại hình quản lý kinh doanh theo cơ chế thị trường. Nó không đáp ứng được yêu cầu chuyển chức năng của chính quyền đô thị từ chủ yếu là quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanh, sang chủ yếu là quản lý môi trường kinh tế – xã hội ngoại vi kinh doanh củà doanh nghiệp; từ phương thức quản lý trực tiếp, chủ yếu bằng phương pháp hành chính, chuyên sang phương thức quản lý gián tiếp, chủ yếu bằng công cụ pháp luật và phương pháp kinh tế.

Cơ chế tài chính đô thị hiện hành còn chưa qui định cụ thể, rõ ràng mối quan hệ tài chính giứa trung ương với đô thị, giữa địa phương với đô thị, đặc biệt là việc phân phối lại thông qua hệ thống thuế và chi ngân sách. Việc quản lý vốn, tài sản quô’c gia còn kém chặt chẽ; tình trạng lãng phí và thất thoát vốn, tài sản quốc gia còn diễn ra phổ biến ở nhiều khâu, nhiều cấp song chưa có biện pháp ngăn ngừa hứu hiệu.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội giá 500 triệu