Cơ chế tăng trưởng kinh tế đô thị

Cơ chế tăng trưởng kinh tế đô thị

Tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế của đô thị hiện đại, đặt cơ sở trên sự tác động của 3 loại cơ chế: Một là, cơ chế mang tính cơ sở, đây là hình thức các ngành kinh tế cấu thành chủ thể của hoạt động kinh tế đô thị. Hai là, cơ chế loại hình động lực, đây là nguồn gốc thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế đô thị và hợp lý hoá cơ cấu các ngành kinh tế đô thị. Ba là, cơ chế mang tính công năng, đây là điều kiện bảo đảm cho sức bền vững và tăng trưởng lâu dài trong sự hoạt động của các ngành kinh tế đô thị. Ba loại cơ chế này hợp thành nội dung và hình thức khác nhau để phân biệt tăng trưởng kinh tế đô thị vđi tàng trưởng kinh tế nói chung.

cơ chế tăng trưởng kinh tế đô thị được giải thích theo lý luận của các nhà kinh tế học đô thị Phương Tây về “Mô hình định hướng – nhu cầu” (The demand orientated model) và “Mô hình cơ sở cung cấp” (Supply base model).

a. Mô hình định hướng – nhu cầu

Đô thị không chỉ có hệ thống các ngành kinh tế tương đối hoàn thiện và tiến bộ, mà các ngành kinh tế này đều có thể chia ra thành 2 nhóm ngành có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau: Nhóm ngành lấy thị trường ngoài khu vực đô thị làm mục tiêu, gọi là các ngành kinh tế cơ sở; và nhóm ngành lấy thị trường trong khu vực đô thị làm mục tiêu, gọi là các ngành kinh tế phi cơ sở. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị, nhóm ngành trưđc là mặt chủ đạo, cũng là nội dung hạt nhân của cơ chế mang tính cơ sử; Bởi lẽ, nói về thị trường các ngành kinh tế của một đô thị, thì thị trường khu vực bên ngoài đô thị tương đối rộng rỗi vô hạn, còn thị trường trong khu vực đô thị lại tương đối nhỏ hẹp hứu hạn. Vì vậy, có thể nói, khả năng cung cấp tài nguyên và tình trạng chiếm lĩnh thị trường do trình độ các ngành kinh tế của đô thị quyết định, là điều kiện cơ bản để lựa chọn chiến lược tăng trưởng kinh tế đô thị. Chiến lược tăng trưởng kinh tế đô thị xét đến cùng là cơ cấu tài nguyên và cơ cấu công nghệ của sản phẩm, tức là chiến lược lựa chọn cơ cấu các ngành kinh tế của đô thị.

Do thị trường bên ngoài đô thị quyết định nhu cầu sản phẩm, vì vậy mà ảnh hưởng đến hệ thống xây dựng và phát triển các ngành kinh tế đô thị, đó là “Mô hình định hướng – nhu cầu”. Theo lý luận này, tốc độ và tính chất tăng trưởng kinh tế đô thị, sẽ quyết định bởi tính chất và qui mô của kinh tế xuất khẩu (exporting economy) của đô thị. Xuất khẩu sản phẩm của đô thị mang lại thu nhập tương đối lớn, một bộ phận của thu nhập này được tích trữ lại, một bộ phận hình thành thuế của chính phủ, một bộ phận lớn tiêu dùng trong ngành dịch vụ nội địa (local service sector) hoặc ngành phi cơ sở (non base sector), từ đó dẫn đến tăng thu nhập và việc làm của các ngành này. Nếu một đô thị nào đó có thu nhập sản phẩm lần đầu (I0) là 100 triệu đồng, ba bộ phận: Tích trứ (trên thực tế chuyển thành dầu tư), thuế (chuyển thành chi tiêu của chính phủ) và tiêu dùng phi dịch vụ phân biệt là 20 triệu đồng, 20 triệu đồng và 60 triệu dồng. Nếu như 60% trong đó vẫn là thu nhập của ngành dịch vụ, thì ngành dịch vụ vẫn còn nhận được thu nhập 36 triệu dồng, cứ lần lượt như vậy, hình thành hệ thống vận hành tuần hoàn lập lại (Reciprocating system), ơ đây, 60% = 0,6 = thừa số tăng trưởng thu nhập K, qui mô tăng trưởng Sn của ngành dịch vụ sẽ là:

Cơ chế tăng trưởng kinh tế đô thị 1

Rất rõ ràng, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ, quyết định bởi lượng thu nhập lần đàu mang lại cho đô thị do xuất khẩu sản phẩm và tỷ trọng chi thu nhập này cho ngành dịch vụ (thừa số).

Lý luận định hướng nhu cầu nói trên còn có mặt hạn chế nhất định, chủ yếu biểu hiện ở:

Thứ nhất, lý luận này xây dựng trên các giả thiết sau:

–  Cung cấp tài nguyên của kinh tế đô thị là vô hạn, vì vậy khi mở rộng thị trường ngoài khu vực đô thị, kinh tế đô thị có khả năng tăng trưởng lâu dài;

–  Khuynh hướng tiêu dùng của đồ thị không đổi, không liên quan với mức thu nhập hoặc phân phối thu nhập, do vậy tuần hoàn tăng trưởng kinh tế của đô thị bắt đầu theo chu kỳ, cho đến vô tận;

–  Đầu tư đô thị đều là hoạt động xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến, do đó mà trở thành dầu tàu của tăng trưởng kinh tế đô thị.

Nhưng trong hiện thực của cuộc sống, tài nguyên của đô thị là một lượng hứu hạn, khuynh hướng tiêu dùng của đô thị không ngừng biến đổi theo thu nhập. Về nguồn gốc dẫn đến đầu tư trong đô thị, quyết không chỉ hạn chế ở việc tăng trưởng của thị trường, nói chung, qui mô của ngành dịch vụ đô thị so với qui mô của cơ sở xuất khẩu trên mức độ lớn càng có tác dụng quyết định đối với sự phát triển đầu tư của đô thị.

Thứ hai, mặc dù giả thiết nêu trên là hợp lý, cũng còn vấn đề thị trường ngoài khu vực đô thị . Sự biến đổi nhiều của định hưđng nhu cầu và sự thay đổi của các ngành kinh tế xuất khẩu, tất sẽ hình thành mâu thuẫn gay gắt, từ đó gây ra sự tách rời các ngành kinh tế loại hình hướng ngoại với định hướng nhu cầu, làm cho kinh tế đô thị khó có thể tiếp tục phát triển theo con đường cũ.

Tính không hợp lý của lý luận định hướng nhu cầu, về căn bản là ở tính không hợp lý của việc phân chia 2 nhóm các ngành kinh tế, nó đứng trên tính chất của thị trường, chứ không đứng trên bản thân các ngành kinh tế. Hơn nữa, điều chủ yếu nhất là nó hoàn toàn coi thường

đặc điểm của các yếa tố sản xuất trong đô thị, đặc biệt là thực trạng kết cấu hạ tầng đô thị và tác dụng của nó trong việc tăng trưởng kinh tế đô thị.

b. Mô hình cơ sở cung cấp

Do các thiếu sót nói trên của lý luận định hướng nhu cầu, học giả Phương Tây lại đè ra một lý luận mới về cơ chế tăng trưởng kinh tế đô thị, tức là “Mô hình cơ sở cung cấp”. Lý luận này cho rằng, khi tăng trưởng kinh tế của một đô thị bị sự uy hiếp của khánh kiệt tài nguyên, thì tăng trưởng kinh tế đô thị quyết định bởi năng lực của các yếu tố sản xuất: Tỷ lệ tăng trưởng dân số, trình độ đầu tư và trình độ tiến bộ công nghệ trong nội bộ đô thị, đặc biệt đối với nền kinh tế công nghiệp hoá lại càng như vậy. Thị trường ngoài khu vực đô thị chỉ là điều kiện định hưđng của sự phát triển các ngành kinh tế đô thị, nhưng không phải là điều kiện cơ bản của sự phát triển kinh tế đồ thị, nó không đủ điều kiện để thu hút vốn đầu tư, sức lao động và tài nguyên bên ngoài dô thị.

Trong đời sống kinh tế hiện thực, “cơ sở cung cấp” bao gồm 3 nội dung:

Một là, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế đô thị. Đô thị lớn so với đô thị nhỏ càng có cơ sở vật chất kỹ thuật hùng hậu, do vậy cùng có sức thu hút các yếu tố sản xuất.

Hai là, trình độ tụ hội đầu tư của đô thị, đặc biệt là trình độ chuyên môn hoá và hiệp tác hoá của các tổ chức công nghiệp trong đô thị.

Ba là, môi trường dầu tư của đô thị, đặc biệt là tình trạng của các công trình hạ tàng đô thị.

Trường hợp cơ sở cung cấp tốt, sẽ dẫn đến các yếu tố sản xuất tụ hội vào đô thị, do vậy mà đẩy mạnh sự khuyếch trương của một số ngành kinh tế đô thị, sự khuyếch trương này chỉ đưa một số hình thức đầu tư mới vào trong quá trình tăng trưởng, hơn nữa cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành kinh tế hứu quan và các đô thị lân cận, tác dụng này gọi là “hiệu quả khuyếch tán” (spread efects). Trường hợp ngược lại do một số lượng lớn sức lao động, vốn đầu tư và các tài nguyên khác bị thu hút vào các đô thị lđn, tất nhiên dẫn đến sự tiêu điều của các ngành kinh tế của các đô thị khác, do vậy mà tạo ra thị trường càng lớn cho sự phát triển kinh tế của các đồ thị lớn, tác dụng này gọi là “hiệu quả hồi quy” (backwash efects). Do hai loại hiệu quả lân cận này (neighborhood efects), sự tụ hội của các yếu tố sản xuất đưa đến sự hình thành các ngành kinh tế mđi, tất nhiên mang lại sự phồn vinh của các ngành kinh tế khác hoặc sự ra đời của các ngành kinh tế mới; Kết quả của sự tuần hoàn và tích luỹ này, dẫn đến sự thay đổi của các ngành kinh tế cũ của đô thị, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đô thị. Đại biểu cửa lý luận “cơ sở cung cấp” là “nguyên tắc nhân quả của tuần hoàn và tích luỹ” của Gunnar Myrdal.

Trong quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị, hai loại lý luận “định hướng nhu càu” và “cơ sở cung cấp” bổ sung lẫn nhau. Sự tăng trưởng kinh tế của đô thị quyết định bởi sự tác động qua lại giữa cung cấp và nhu càu, tức là nói nhu cầu thị trường tạo ra động lực tối nguyên thuỷ của tăng trưởng kinh tế, còn nhân tô cung cấp thì quyêt định tốic độ và thời gian tăng trưng kinh tê.

Thông qua sự phân tích trên ta thấy, quá trình lưu thông và tích lũy của các yêu tô kinh tê, sự phát triển của quá trình này luôn luôn dựa trên 2 sự biên đối về số’ lượng của đầu tư,yà thu nhập. Do vậy, tăng trương kinh tế trên thực tế là hàm số’ giữa đầu tư và thu nhập, gọi là “hiệu ứng kích động đầu tư”, và “hiệu ích hồi lưu thu nhập”. Hiệu ứng kích động đau tư là tác động trực tiếp thúc đẩy sự đầu tư đối với tăng trương kinh tế; Hiệu ích hồi lưu thu nhập nhấn mạnh hiệu quả ảnh hương trực tiếp của thu nhập đối với tăng trưởng kinh tế. Đôi vối một khu vực thị trường thông nhất thị trường trong khu vực đô thị và thị trường ngoài khu vực đô thị) mà nói, thu nhập biểu hiện là yêu cầu của tăng trưởng, đầu tư dự tính khả năng tăng trưởng, do vậy mà hai cái trở thành nhân tố tác động trực tiếp của sự phá vỡ cân đô’i cũ và xác lập cân đốì mới trong cơ chế vận hành của kinh tê đô thị.

Sức tụ hội nội bộ và sức hấp dẫn đặc biệt được sản sinh do lợi ích tụ hội của đô thị, đặc tính của các yếu tô sản xuất và mật độ cao của tính chất kinh tê đô thị, làm cho đầu tư và thu nhập càng có vị trí và vai trò đặc biệt trong tăng trưởng kinh tê đô thị. Đô thị với tính cách là một cấp chủ thê kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế XHCN, đầu tư và thu nhập đểu là hai chỉ tiêu chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, trong đó đầu tư là chỉ tiêu không chê được bô” trí trước, thu nhập là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vê sau, do đó dẫn đến sự khác biệt của chính sách kinh tế của các đô thị.