Cơ chế và chính sách ngành của việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

Cơ chế và chính sách ngành của việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

a. Cơ chế của việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

Việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị đòi hỏi phải sử dụng cơ cấu kinh tế tương ứng làm phương tiện. Cơ chế của kinh tế hàng hoá là ơơ chế thị trường, do đó càn căn cứ vào tình hình biến đổi của nhu cầu thị trường và tình hình lên xuống của giá cả, để hướng dẫn việc đầu tư vốn cho các doanh nghiệp. Nền kinh tế hàng hoá nước ta phát triển theo kế hoạch, bản thân nó yêu cầu phải có sự điều tiết vĩ mồ của Nhà nước. Vì vậy, kết hợp kế hoạch với thị trường trở thành cơ chế điều tiết chung của sự vận hành nền kinh tế hàng hóa. Việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị là một bộ phận cấu thành quan trọng của sự vận hẳnh vĩ mô của đô thị, dồng thời cũng chịu sự chế ước của cơ chế điều tiết chung này. Để thực hiện chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị, cần tập trung giải quyết tốt cơ chế hai mặt:

Thứ nhất, về mặt vi mô, cần xác lập lại cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của qui luật kinh tế hàng hoá. Thông qua mô thức kinh doanh nhất định của doanh nghiệp, để xử lý tốt mối quan hệ giữa tài sản và quyền lực của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp có động lực theo đuổi việc ứng dụng công nghệ mới, chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế, khắc phục các hành vi ngắn hạn của hiệu quả kinh tế ngắn, hạn.

Thứ hai, về mặt vĩ mô, cần xây dựng cơ chế điều tiết vĩ mô để thúc đẩy quá trình chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế của đô thị nói riêng và của cả nưđc nói chung, ơ đây, bên cạnh việc phát triển nhanh chóng hệ thống thị trường nhằm tạo môi trường bên ngoài cho sự đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, Nhà nước cần thông qua các chính sách vĩ mô về ngành sản xuất, tài chính, tiền tệ, thu nhập, ngoại thương để hình thành tổng cung và tổng cầu của xã hội. Sau đó, trong phạm vi tông mức kinh tế do chính sách vĩ mô hình thành, thông qua thị trường để hướng dẫn sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

b. Chính sách của việc chuyển dịch loại hình cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

Chế định chính sách ngành phù hợp với tình hình thị trường là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng để hướng các doanh nghiệp theo đuổi việc đổi mới công nghệ, thực hiện việc chuyển đổi loại hình sản xuất.

Chính sách ngành là công cụ thúc đẩy sư phát triển của một ngành hoặc một nhóm ngành chiến lược của một quốc gia hoặc của một khu vực trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, tăng trưởng kinh tế bền vững và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính sách ngành là chính sách hạt nhân của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một nước, nó được hình thành thông qua sự kết hợp với các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế khoá, ngoại thương, ngoại hối và công nghệ. Hệ thống chính sách ngành này bao gồm chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ, chính sách dầu tư, chính sách tổ chức sản xuất và chính sách xuất nhập khẩu. Thông qua các chính sách này để huy động các loại phương tiện kinh tế, đem tài nguyên có hạn về nhân lực, tài lực, vật lực, ngoại hối đầu tư vào các ngành chiến lược, hợp lý hoá cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ và cơ cấu xuất nhập khẩu để nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hứu quan.

Chính sách ngành để thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế là một hệ thống, chủ yếu được hợp thành bởi các chính sách sau:

Một là, chính sách lựa chọn ngành kinh tế chủ đạo.

Sự chuyển đổi loại hình và điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế của một đô thị trước hết cần lựa chọn tốt ngành kinh tế chủ đạo của đô thị. Ngành kinh tế chủ đạo nói chung là ngành hoặc nhóm ngành ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ đô thị, được xác định căn cứ vào tình hình tài nguyên, vị trí địa lý, tính chất và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của từng đô thị. Vì vậy, ngành kinh tế chủ đạo về lâu dài mà nói, cũng là ngành chiến lược của một quốc gia, một khu vực, một đô thị. Ngành kinh tế chủ đạo có mấy đặc điểm chủ yếu:

– Quan hệ sản xuất rộng rãi, tức sự phát triển của ngành kinh tế chủ đạo có thể lôi kéo sự phát triển của một loạt các ngành kinh tế khác. Trong đó có ngành sản xuất nguyên liệu, ngành sản xuất linh kiện, phụ tùng và các ngành có liên quan với mọi mặt hoạt động của đô thị như giao thông, bưu điện, thương nghiệp, dịch vụ. Mức độ quan hệ sản xuất của một ngành càng rộng thì tính chủ đạo của nó càng lớn.

–   Hiệu quả kinh tế cap nhất. Ngành kinh tế chủ đạo là ngành có hiệu quả so sánh cao nhất về sản xuất, kinh doanh của một quốc gia, một khu vực, một đô thị, tức là ngành có ưu thế lớn nhất về kinh tế trong khu vực.

–   Thị trường tiềm năng lớn nhất. Ngành kinh tế chủ đạo cũng là ngành có thị trường tiềm năng lớn nhất, do đó là ngành có tốc độ chu chuyển vốn nhanh nhất và mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất.

Sự chuyển dịch loại hình cơ cấu các ngành kinh tế trưđc hết được diễn ra trong ngành kinh tế chủ đạo, thực hiện sự chuyển dịch từ loại hình thâm canh vốn và sức lao động sang loại hình thâm canh chất xám. Chỉ vậy mới có thể tác động đến sự tăng trưởng rõ ràng giá trị gia tăng của các ngành kinh tế toàn đô thị.

Hai là, chính sách công nghệ của ngành.

Thông qua chính sách này để trực tiếp thúc đẩy việc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nhđng sản phẩm do ngành sẻn xuất. Trong đó bao gồm các nội dung sau:

–   Xây dựng chế độ quyền sd hữu công nghệ, chế định và thực thi pháp luật về quyền sở hửu công nghệ.

–   Hình thành và phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy sự kết hợp chặt chẽ giứa khoa học với sản xuất, làm cho kết quả nghiên cứu công nghệ nhanh chóng trở thành sản phẩm.

–   Xác định nguyên tắc chi tiết của chính sách đổi mđi công nghệ của các ngành nghề, qui định rõ ràng tiêu chuẩn công nghệ cơ bản cho các ngành, đặc biệt là ngành kinh tế chủ đạo.

–   Ra sức đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hoá, thông dụng hoá và hàng loạt hoá, đông thời tăng cường công tác quản lý, giám sát và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

–            Quản lý chặt chẽ việc dự toán vốn cho cải tạo và đổi mđi công nghệ, bảo đảm sử dụng các khoản vốn theo đúng qui định.

–   Khen thưởng đổi mởi công nghệ và phát minh sáng chế, tiến hành trọng thưởng đối với các phát minh lớn về công nghệ.

–   Xây dựng chế độ chế tài về tranh chấp công nghệ, bảo vê lợi ích kinh tê’ hợp lý của người đổi mới công nghệ.

Ba là, chính sách đầu tư của ngành.

Cần áp dụng chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành thuộc loại hình thâm canh cồng nghệ, nâng cao hiệu quả kinh tế của đầu tư công nghệ. Trong đó trưđc hết cần điều chỉnh cơ cấu chủ thể đàu tư theo hướng xác lập một thể chế trực tiếp ràng buộc chủ thể dầu tư vđi hiệu quả đầu tư, thay đổi cơ cấu chủ thể dàu tư duy nhất là Nhà nước thành cơ cấu chủ thể dầu tư nhiều thành phần, lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, để thúc đẩy sự tăng trưởng hiệu quả của công nghệ.

Bốn là, chính sách tổ chức sản xuất.

Chính sách này yêu cầu cần căn cứ vào nguyên lý của nền kinh tế qui mô, xác lập thể chế sản xuất từng lô hàng lớn trên cơ sở hiệp tác cao độ về mặt công nghệ, nhằm thúc đẩy quá trình tập trung hoá và chuyên môn hoá sản xuất. Đồng thời phải chú trọng khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún bằng công nghệ lạc hậu vđi năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp.

Năm là, chính sách xuất nhập khẩu nhằm thúc đẩy sự đổi mới công nghệ.

Một quốc gia, một khu vực hay một đô thị, muốn thực hiện việc chuyển đổi loại hình cơ cấu các ngành kinh tế, phải hoạch định chính sách xuất nhập khẩu hợp lý, thực hiện chiến lược ngoại thương đúng đắn. Nói chung chiến lược ngoại thương được phân ra thành chiến lược nhập khẩu thay thế, chủ yếu được áp dụng trong giai đoạn dầu của thời kỳ công nghiệp hoá, và chiến lược xuất khẩu hướng dẫn, chủ yếu được áp dụng khi nền kinh tế đã được phát triển tới một trình độ nhất định. Thông qua việc thực hiện các chiến lược này để thúc đẩy sự tiến bộ của công nghệ quốc gia, khu vực hay đô thị đó.

Bản thân việc xuất nhập khẩu công nghệ cũng cần hoạch định và thực hiện các chính sách có lợi cho việc đổi mđi công nghệ, thông qua chế đô cấp giấy phép xuất nhập khẩu và chính sách ưu đãi thuế quan để khuyến khích việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến và xuất khẩu thành tựu công nghệ của đất nước.