Công nghiệp hoá và đô thị hoá

Công nghiệp hoá và đô thị hoá

a. Cách mạng công nghiệp

Sự bắt đầu của cách mạng công nghiệp vào giữa thế kỷ XVIII, đồng thời cũng là sự mở đầu của đô thị hoá, công nghiệp đại cơ khí TBCN vừa xuất hiện thì sức sống lớn mạnh của nó cũng xuất hiện, trong một thời gian rất ngắn đã cải biến trạng thái kinh tế của đô thị. Trong đô thị, nhà máy hiện có không ngừng được mở rộng qui mô, nhà máy mới không ngừng được xây dựng. Cái đó không chỉ thu hút một số lượng lớn dân số nông thôn tập trung lên đô thị, mà còn trực tiếp làm thay đổi cảnh quan và hình thái của đô thị.

Nội dung cơ bản của cách mạng công nghiệp bao gồm 3 mặt như sau:

Thứ nhất: Cách mạng ngành chế tạo. Đây là hình thức căn bản của cách mạng công nghiệp. Cách mạng ngành chế tạo quyết không phải chỉ biểu hiện sự gia tăng số lượng và mở rộng qui mô nhà máy, mà điều căn bản nhất là cách mạng động lực đưa đến sự thay thế phương pháp sản xuất đại cơ khí đối với công trường thủ công.

Cách mạng ngành chế tạo thúc đẩy đô thị hoá thông qua mấy mặt:

–  Qui mô tích luỹ nguyên thuỷ của doanh nghiệp cá biệt, mặc dù thời kỳ đầu của cách mạng công nghiệp, cũng đã trở thành hình thức hạt nhân của kinh tế đô thị vừa và nhỏ;

–  Hoạt động thương nghiệp ngày càng thiên về tập trung tại khu vực đã tồn tại hoạt động thương nghiệp;

–  Hoạt động của doanh nghiệp ngày càng thiên về phát triển theo chuyên môn hoá.

Thứ hai: Cách mạng hệ thống giao thông. Xét từ quá trình phát triển đô thị, đô thị thường được bố cục tại một điểm trên lưới vận tải hàng hoá, như hải cảng, đầu mối giao thông thuỷ bộ. Cách mạng hệ thống giao thông chủ yếu là cách mạng động cơ dẫn đến sự phát triển bằng tàu thuỷ, tàu hoả và ôtô. Nếu như vận tải bằng tàu thuỷ trên sông vẫn còn chịu sự hạn chế về địa lý, thì sự phát triển của vận tải đường sắt và đường bộ không chỉ liên kết các vùng nông thôn và khu vực vận tải không phát triển lại với nhau, mà còn làm cho các phương tiện vận tải này nâng cao vận tốc, tăng thêm khối lượng vận tải, giảm thiểu cự n giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, làm cho sự tập trung hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và dân số ngày càng nhanh chóng.

Thứ ba: Cách mạng nông nghiệp, ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp được biểu hiện ở 2 mặt: một mặt nó tăng nhanh cuộc cách mạng công nghệ và cồng cụ sản xuất nông nghiệp hiện đại, nâng cao nhanh chóng năng suất lao động nông nghiệp, thúc đẩy sức lao động nông nghiệp tách khỏi hệ thống sản xuất nông nghiệp. Mặt khác nó tăng nhịp độ tập trung đất đai nông nghiệp, làm cho phương thức sản xuất nông nghiệp lớn hiện dại được xác lập, những cái đó có ảnh hưởng trọng đại đối với đô thị hoá.

b. Điều kiện làm cho công nghiệp hoá trở thành động lực của đô thị hoá

Cách mạng công nghiệp đã sản sinh hình thức sản xuất hiện đại, xây dựng nên hệ thống đại công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất thủ công nghiệp và kinh tê’ nông thôn phân tán trước đây phát sinh sự biến đổi về tính chất và khu vực, thúc đẩy sự tập trung của hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Công nghiệp hoá với tính cách là hình thức động lực cơ bản của độ thị hoá, chủ yếu nó có các điều kiện đặc biệt sau:

– Công nghiệp hoá xác lập khái niệm lợi ích giá thành so sánh. Ưu thế của giá thành so sánh này có thể được hình thành bởi các nguyên nhân: tính chuẩn xác và hiệu quả cao của giao thông vận tải; sự gần lại giữa nơi sản xuất với nơi khai thác quặng và các tài nguyên thiên nhiên khác; có lợi cho việc nâng cao dung lượng và làm sôi động thị trường hàng hoá; sự tồn tại sức lao động với số lượng lớn và ngày càng tăng trưởng. Sự thực, đô thị thường phân bố tại điểm tập kết trung tâm giao thông tự nhiên.

–    Công nghiệp hoá tăng nhanh chuyên môn hoá hệ thống sản xuất. Dưới ngọn cờ công nghiệp hoá, mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất một loại sản phẩm hoặc một bộ phận trong một loại sản phẩm, phân công có tính chuyên môn hoá cao độ. Người sản xuất thu hồi được lợi ích so sánh từ trong sản xuất chuyên môn hóa tập trung với khối lượng lớn, loại lợi ích do việc chuyên môn hoá cao độ của trang bị, vốn, sức lao động, tri thức kỹ thuật, thậm chí cơ cấu giáo dục hứu hiệu mang lại. Vì chỉ trong điều kiện thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, doanh nghiệp mới có thể mua được khối lượng lớn nguyên vật liệu và khối lượng sản phẩm tương đối lớn để giành được ưu thế về giá cả và thị phần; mới có thể làm cho thiết bị của mình được kịp thời đổi mới, làm cho người lao động của doanh nghiệp được giáo dục và bồi dưỡng, huấn luyện về ngành nghề chuyên môn; mới có thể nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và hạ thấp giá thành sản phẩm; mđi có thể tiến hành quản lý doanh nghiệp công nghiệp dựa trên nhứng nguyên lý khoa học…

–    Công nghiệp hoá làm cho kinh tế qui mô có đầy đủ đất trống để phát huy tác dụng. Kinh tế qui mô là lợi ích kinh tế thu được trong một phạm vi qui mô nhất định của một loại hoạt động kinh tế nào đó. Lý luận kinh tế vi mô chỉ rõ, chỉ trong trường hợp tỷ suất biến đổi của dầu tư một doanh nghiệp nhỏ hơn tỷ suất biến đổi của sản xuất, hàm số sản xuất của doanh nghiệp đó mới có thể sản sinh tác dụng của kinh tế qui mô. Dưới tác dụng của kinh tế qui mô, hoạt động sản xuất thường bị giới hạn trên một không gian nhất định, làm cho nơi sản xuất và nơi tiêu dùng thống nhất với nhau, như vậy kinh tế qui mô trở thành nhân tố rất quan trọng của việc tập trung trong không gian các hoạt động kinh tế.

Như vậy, tác dụng của chuyên môn hoá sản xuất và kinh tế qui mô, tạo cơ hội và điều kiện cho việc phát triển hệ thống sản xuất đại công nghiệp cơ khí của đô thị. Hơn nữa, sản xuất chuyên môn hoá và kinh tế qui mô cũng đồng thời giúp cho sự tồn tại của thị trường hàng hóa phi doanh lợi và thị trường dịch vụ.

c. Nguồn gốc của động lực phát triển đô thị hoá

Trên thực tế, động lực phát triển của đô thị hoá được bắt nguồn từ 2 mặt, là tác dụng lực hút của đô thị và tác dụng lực đẩy của nông thôn do công nghiệp hoá mang lại.

Lực hút của đô thị. Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và doanh nghiệp tập trung lên đô thị, là vì công nghiệp hoá tạo ra ưu thế giá thành tương đối to lớn trong đô thị, tạo ra chuyên môn hoá cao độ tổ chức sản xuất, tạo ra hiệu ứng của kinh tế qui mô. Gia đình và dân số tập trung ên khu vực đô thị, là do kết quả chung của ngoại vi hoá tiêu dùng cá nhân và ngoại vi hoá sản xuất nông nghiệp của đô thị. Cái trước hình thành thị trường trao đổi và tiêu dùng, tạo thành hệ thống và kênh lưu chông của đô thị, cái sau hình thành hệ thống sản xuất đô thị và điều kiện bên ngoài đô thị, tạo cơ hội cho một số lượng lớn người dân rời khỏi nông thôn ra đô thị tìm kiếm việc làm và thu nhập. Do vậy, ngoại vi hoá tiêu dùng cá nhân và ngoại vi hoá sản xuất nông nghiệp đã liên kết tiêu dùng cá nhân phân tán với sản xuất công trường thủ công, hình thành phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt của đô thị, tạo điều kiện cho việc hiệp tác, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và môi trường sinh sống, nghỉ ngơi học tập, vui chơi, giải trí, hưởng thụ của dân cư. Đồng thời lực hút của đô thị do công nghiệp hoá tạo ra còn là lợi ích của việc phát triển văn hoá giáo dục đô thị, thông tin cập nhật, tập trung hoá và chuyên môn hoá các chức năng quản lý của chính quyền đô thị.

Lực đẩy của nông thôn. Lực đẩy của nông thôn do công nghiệp hoá tạo ra, chỉ sự đổi mới công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông nghiệp lớn do cách mạng nông nghiệp mang lại. Không kể ờ châu Âu hay ở châu Mỹ, loại nông nghiệp lớn này đêu trước sau giành được vị trí chủ đạo nông thôn sau cách mạng công nghiệp. Sự xác lập vị trí của nông nghiệp lớn không chỉ thúc đẩy việc áp dụng công cụ và công nghệ sản xuất tiên tiến của ngành nông nghiệp, mà còn trực tiếp thay đổi trạng thái kinh tế nông nghiệp, tạo ra phương thức và phương pháp sản xuất nông nghiệp hiện đại, chỉ như vậy mới có thể làm cho một số lượng lớn sức lao động nông nghiệp chuyển dịch sang công nghiệp, làm cho điểm dân cư nông thôn cũng xuất hiện xu thế tập trung, kết quả dẫn đến sự hình thành đô thị. Lực đẩy của nông thôn còn bắt nguồn ở sự nghèo khổ tương đối mà công nghiệp hoá mang lại cho kinh tế nông thôn. Vì rằng công nghiệp hoá thời kỳ đầu đẻ ra 2 kết quả trái ngược nhau giữa đô thị và nông thôn: Một mặt là tư bản đô thị tích luỹ với tốc độ cao và xây dựng một số lượng lớn nhà máy mới, mặt khác là một số lượng lớn tư bản nông nghiệp chuyển dịch sang công nghiệp, sự chuyển dịch được quyết định bởi sự chênh lệch tỷ suất lợi nhuận tư bản công nghiệp và tỷ suất lợi nhuận tư bản nông nghiệp. Kết quả, tốc độ tích luỹ của tư bản công nghiệp, trình độ phát triển của kỹ thuật công nghiệp và hình thức phát triển của tổ chức công nghiệp, đêu hình thành sự đối chiếu rõ ràhg với nông thôn, đô thị ngày càng phồn vinh) nông thôn ngày càng nghèo khổ, do đó làm cho một số lượng lđn sức lao động nông nghiệp rời bỏ nông thôn, chạy đổ xô lên đô thị để đi tìm cuộc sống “tự do”. Như vậy, trong xã hội tư bản chủ nghĩa đồng thời với việc thực hiện đô thị hoá, đã làm xấu đi mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn.