Đặc điểm của kết cấu hạ tầng đô thị (P2)

c. Tính đồng bộ của vận hành

Kết cấu hạ tầng đô thị là bộ phận hạ tầng của kết cấu công năng, cần phải phục tùng yêu cầu của công năng đô thị. Nhưng nó không chỉ khâu nối mối quan hệ mật thiết giữa người với tự nhiên, mà còn tạc tạo hình tượng của mổì quan hệ giữa sản xuất và sinh hoạt đô thị. kết cấu hạ tầng ở thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau, thông qua các hình thức khác nhau để cung cấp cho xã hội các loại dịch vụ khác nhau. Kết cấu hạ tầng cung cấp nưđc sạch cho đô thị, đông thời lại gánh vác nhiệm vụ thoát nước thải của đô thị; Kết cấu hạ tầng mở rộng giao thông, dồng thời lại phải giảm thiểu tiếng ồn và ô nhiễm; kết cấu hạ tầng tập trung cung cấp nhiệt, khí đốt cho đô thị, dồng thời lại cần làm cho đô thị xanh, sạch, đẹp, bảo vệ sinh thái bầu khí quyển … Vì vậy, không chỉ vận hành của kết cấu hạ tầng cầu thống nhất với vận hành của kết cấu công năng, mà hơn nứa giữa các bộ phận của kết cấu hạ tầng cũng phải duy trì tỷ lệ nhất định. Thí dụ: việc cấp (thoát) nước, cấp nhiệt, cấp khí đốt đều thông qua thiết bị đường ống,   mà sản phầm được phân biệt đưa đến từ nhà máy nước, nhà máy điện, nhà máy chế biến khí đốt; muốn sử dụng đầy đủ đường ống cần tiến hành tập trung dầu tư và thống nhất kinh doanh.

Giữa các hệ thống của kết cấu hạ tầng đô thị tồn tại mối quan hệ công năng đa dạng trong đó giữa các bộ phận lại có qui luật vận hành khác nhau, do vậy phải duy trì sự ăn khớp giữa các phương pháp, giứa các hệ thống. Ví như quản lý hoạt động vận tải tại các đầu mối giao thông – nơi giao nhau giứa đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không. Hơn nữa, sự ổn định tương đối của số lượng sản phẩm và dịch vụ mà kết cấu hạ tầng cung cấp, cũng tạo điều kiện cho việc thực hiện kinh doanh đông bộ. Xuất phát từ mục đích bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường có thể áp dụng hình thức kinh doanh lũng đoạn trên mức độ nhất định đối với một số bộ phận của kết cấu hạ tầng như cấp điện, nước máy… Tuy vậy, tính đồng bộ của vận hành kết cấu hạ tầng đô thị không hề phủ nhận tính đa dạng của nó vê thành phần kinh doanh và phương thức thu hồi đầu tư.

d. Tính tổng hợp của phục vụ

Kết cấu hạ tầng đô thị là một hệ thống không phục vụ riêng cho đơn vị công năng (hoặc đơn vị xã hội) cụ thể và đặc biệt, mà cung cấp điều kiện phục vụ chung cho sản xuất và xã hội hoá của toàn bộ đô thị. Kết cấu hạ tầng đô thị sử dụng sản phẩm phục vụ dồng nhất, kết hợp chặt chẽ nó với hàng vạn đối tượng phục vụ mà khi đứng trước kết cấu hạ tầng thì tất cả mọi sự khác biệt giữa chúng sẽ biến mất. Trong đô thị sẽ xuất hiện hai thành phần vừa phân ly vừa liên hệ với nhau: Một bộ phận là kết câ’u công năng và kết cấu xã hội hợp thành đối tượng phục vụ (khách hàng); một bộ phận là kết cấu hạ tầng với tư cách là người phục vụ (người bán hàng). Sự ăn khớp giứa hai thành phần này trở thành điều kiện của sản xuất xã hội hoá của đô thị.

Phục vụ mà kết cấu hạ tầng đô thị cung cấp có một đặc điểm rõ ràng là: đối tượng phục vụ vừa có người tiêu dùng sản xuất vừa có người tiêu dùng sinh hoạt. Đặc tính phục vụ chung cho sản xuất vật chất và sinh hoạt xã hội của đô thị thể hiện tính tổng hợp của phục vụ do kết cấu hạ tầng đô thị thực hiện. Ví như cấp nước đô thị bao gồm nước dùng cho công nghiệp, nước dùng cho sinh hoạt, nước dùng cho phòng cháy, chứa chẳy; cấp điện đô thị bao gôm điện dùng cho công nghiệp, điện dùng cho thị chính, điện dân dụng; cấp nhiệt đô thị bao gôm nhiệt cho công nghiệp, nhiệt cho sưởi ấm, nước nóng sinh hoạt; cấp khí đốt đô thị bao gôm khí đốt cho công nghiệp, khí đốt dân dụng. Kết cấu hạ tầng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm và sáng tạo giá trị, đông thời cung cấp dịch vụ sinh hoạt cho dân cư đô thị. Tài liệu thống kê của nhiều đô thị chứng tỏ, có khoảng 30% nưđc máy, 50% khí đốt, 35% đường sá, xe cộ được dùng vào việc phục vụ sinh hoạt của dân cư đô thị.

Nói chung, kết cấu hạ tầng đô thị là một loại tải thể phục vụ, phục vụ do nó cung cấp không giống phục vụ do kết cấu xã hội cung cấp có “tính đơn nhất”, mà là phục vụ có tính tổng hợp, đó là điều kiện chung để tiến hành sản xuất xã hội và sinh hoạt của đô thị. Đối tượng phục vụ của nó không phải là đơn vị hoặc cá nhân đặc biệt, mà là hàng vạn hộ sử dụng khác nhau về hình thức nhưng đồng nhất về chất. Điều đó làm cho kết cấu hạ tầng trở thành một ngành kinh tế tương đối độc lập, mà tính đông bộ về vận doanh của nó có thiên bẩm và điều kiện đặc biệt.

e. Tính gián tiếp của hiệu quả

Mặc dù đại bộ phận kết cấu hạ tầng đêu thực hiện hạch toán nội bộ hoặc hạch toán doanh nghiệp, nhưng hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh trước hết không biểu hiện thành thời gian không thu hồi đầu tư dài hay ngắn và số lượng thu hồi đầu tư nhiều hay ít. Nhìn chung, kết cấu hạ tầng phần lớn ỉà kết cấu mang tính lâu dài, chúng có dầu tư lớn, hạng mục nhiều, chu kỳ xây dựng dài và đi trước, thu hồi khấu hao chậm chạp, hơn nữa còn phải không ngừng bỏ thêm chi phí bảo dưỡng duy tu.

Cải tiến phương thức kinh doanh kết cấu hạ tầng, thực hiện kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ có trả tiền đối vđi kết cấu hạ tầng, thông qua thị trường để thực hiện giá trị dầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng, đây là con đường chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của nó. Đối với kết cấu hạ tầng thực hiện bù lỗ tài chính, tiến hành hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp hoặc đơn vị sự nghiệp, cần ra sức giảm bớt bù lỗ của Nhà nước, thực hiện đa dạng hoá kinh doanh, tăng thu giảm chi, nâng cao năng lực phát triển của bản thân, đây cùng là biện pháp tốt để nâng cao hiệu quả kinh tế của kết cấu hạ tầng. Tuy vậy, nâng cao hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh kết cấu hạ tầng, vẫn không thể cải biến một cách căn bản đặc điểm của tính gián tiếp về hiệu quả của nó. Hiệu quả kinh tế của kết cấu hạ tầng đô thị, chủ yếu được biểu hiện ở sự nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường mà nó mang lại cho đối tượng phục vụ. Thí dụ: Sau khi xây dựng xong cầu Chương dương và cầu Thăng Long, mặc dù rất khó có thế thu hồi đủ số vốn đầu tư trong một thời gian dài, nhưng chúng đã góp phần quan trong nâng cao hiệu quả kinh tê của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Hà Nội và vùng phụ cận.