Đặc trưng của cơ cấu các ngành kinh tế đô thị (P2)

b. Cơ cấu các ngành kỉnh tế đô thị là cơ cấu kinh tế thuộc loại hình dịch vụ, các ngành kinh tế khu vục thứ ba chiếm tỷ trọng tương đối lớn

Cơ cấu các ngành kinh tế đô thị đã là loại hình hướng ngoại thì tất nhiên là loại hình dịch vụ, trong đó chiếm một tỷ trọng tương đối lớn là các ngành dịch vụ muôn màu muôn vẻ.

cơ cấu các ngành kinh tế đô thị không chỉ biểu hiện ởtỷ trọng của nông nghiệp rất thấp, mà còn biểu hiện ở tỷ trọng của dịch vụ rất cao. Chẳng hạn trong tổng giá trị sản lượng quốc dân của Hồng Kông năm 1991, trong khi nông nghiệp bằng (=) 0 thì dịch vụ đạt tới 75%. Song song vđi sự phát triển của nền kinh tế thị trường, trong phạm vi toàn quốc và nhất là trong khu vực đô thị của các nước đang phát triển đều bước vào thời kỳ mới của sự phát triển kinh tế dịch vụ. Điều đó do:

Một là, nhu cầu của thị trường đối với các ngành sản xuất vật chất, tức là sản phẩm của các ngành công nông nghiệp, hưđng tớiđa dạng, đòi hỏi doanh nghiệp phải mở rộng mặt hàng sản xuất, phát triển sản phẩm cao cấp, do vậy mà thúc đẩy các ngành sản xuất thực hiện tập trung hoá tri thức công nghệ và áp dụng công nghệ mới.

Hai là, phạm vi lưu thông hàng hoá được mở rộng một cách nhanh chóng, đòi hỏi ngày càng phải đa dạng hoá và hiện đại hoá phương tiện vật chất và phương thức phục vụ cho việc phát triển lưu chuyển hàng hoá.

Ba là, người tiêu dùng đòi hỏi cần được thoả mãn không chỉ nhu cầu về mặt vật chất mà còn nhu cầu về mặt tinh thần, giá trị quan của con người trở nên đa dạng, cơ cấu dân cư phát triển theo hướng tỷ lệ người cao tuổi và có học vấn ngày càng lớn, tất cả những cái đó đều yêu cầu phải phát triển nhanh chóng khu vực kinh tế thứ ba.

Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khu vực các ngành dịch vụ càng được phản ánh tập trung trong các đô thị, bởi vì vai trò trung tâm kinh tế của các thành phố lớn ngày càng tăng cường và cực kỳ rõ ràng. Tại một số thành phố lớn nổi tiếng trên thế giđi như New York, London, Tokyo và Hông Kông (Trung Quốc), các ngành thương nghiệp, tiền tệ, bảo hiểm, bất động sản, giao thông, bưu chính viễn thông, dịch vụ …. đã trở thành các ngành kinh tế chủ đạo, làm cho tỷ trọng giá trị sản lượng và số người có công ăn việc làm của các thành phố này vượt lên hàng đàu. Nói về tỷ lệ số người tựu nghiệp năm 1988 New York đạt 81,3%, London đạt 73,63%, Tokyo đạt 69,84%. Tỷ lệ này phản ánh một xu thế lớn của sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế đô thị.

c. Cơ cấu các ngành kinh tế đô thị là cơ cấu kinh tế thuộc loại hình phát triển theo chiều sâu và có hiệu quả cao

Phát triển kinh tế được thực hiện thông qua hai con đường chủ yếu. Một là mở rộng tái sản xuất bằng loại hình phát triển theo chiều rộng, hoặc loại hình quảng canh, ngoại diên, nó chủ yếu dựa vào sự gia tăng số lượng các yếu tố sản xuất để thực hiện; một là mở rộng tái sản xuất bằng loại hình phát triển theo chiều sâu, hoặc loại hình thâm canh, nội hàm, nó chủ yếu dựa vào việc nâng cao chất lượng các yếu tố sản xuất và năng suất lao động để thực hiện. Tính hữu hạn về không gian và đặc điểm kinh tế của đô thị, làm cho sự phát triển kinh tế của nó

được thực hiện chủ yếu bằng con dường thứ hai. Cụ thể là:

Trước hết, phát triển theo chiều sâu và hiệu quả cao của cơ cấu các ngành kinh tế đô thị bắt nguồn từ tính tụ hội của kinh tế đô thị. Đô thị nói chung là trung tâm trao đổi hàng hoá, trung tâm chế tạo sản phẩm và trung tâm giao thông, là khu vực tụ hội các yếu tố sản xuất, hình thành một hệ thống vận hành kinh tế khổng lồ. Hệ thống này tập trung trong một không gian hữu hạn, nó đòi hỏi quá trình sản xuất các loại sản phẩm và dịch vụ phải phát triển theo chiều sâu, thực hiện sản xuất bằng con đường thâm canh sức lao động, vốn và công nghệ, đó là nguyên nhân căn bản của việc phát triển theo chiều sâu và hiệu quả cao.

Sau nứa, đô thị với tính cách là trung tâm kinh tế của khu vực và của cả nước, nó cần dựa vào con đường phát triển theo chiều sâu để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các khu vực xung quanh. Bởi lẽ, chỉ vậy đô thị mới trở thành khu vực có trình độ công nghệ tiến tiến nhất của một quốc gia hoặc của một khu vực. Sự phát triển kinh tế của các nước trên thế giới đều được thực hiện bằng cách khuyếch tán công nghệ của đô thị, đô thị với tính cách là cứ địa của sự khuyếch tán này làm cho cơ cấu các ngành kinh tế của nó phải là cơ cấu phát triển theo chiều sâu, đầu tư nhiều tri thức kỹ thuật mà trở thảnh cơ cấu thuộc loại hình có hiệu quả cao.

Phát triển theo chiều sâu và hiệu quả cao có liên quan với nhau, nói chung cơ cấu thuộc loại hình phát triển theo chiều sâu là C.Ơ cấu có hiệu quả cao. Vì rằng phát triển theo chiều sâu đòi hỏi sự phát triển tương đối cao của chuyên môn hoá phân công và hợp tóc, đòi hỏi việc sử dụng tốt hơn các nguồn tài nguyên công cộng, trong đó bao gồm các nguồn năng lượng, nước, vật liệu, hệ thống giao thông, bưu chính viễn thông và các ngành dịch vụ. Do vậy, mà có thể tiết kiệm một số lớn chi phí, đất đai; tập trung hoá hoạt động tiền tệ, tăng nhanh vòng quay và nâng cao hiệu quả của đồng vốn; nhất là trong nền kinh tế thuộc loại hình phát triển theo chiều sâu, cần phải táng nhanh nhịp độ đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ mới, điều này tất nhiên dẫn đến hiệu quả kinh tế cao, làm cho cơ cấu các ngành kinh tế đô thị có-đặ£ trưng hiệu quả cao.

Năng suất lao động và thu nhập quốc dân bình quân đàu người của các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Biên Hoà, Đà Năng … cao hơn 2-3 lần so vđi mức bình quân của các đô thị trung bình. Năng suất lao động công nghiệp của các thành phố có số dân trên 1 triệu người của Liên Xô cũ cao hơn 38% so với các đô thị chỉ mấy chục vạn người. Tại Trung Quốc năm 1980, giá trị sản lượng bình quân đầu người của đô thị là 3848,9 tệ, trong khi của nông thôn là 190,7 tệ. ở Nhật Bản, giá trị sản lượng công nghiệp và thu nhập bình quân đâu người của các thành phố lớn cao hơn khoảng 20% so với mức bình quân chung của cả nước.