Định hướng phát triển đô thị

định hướng phát triển đô thị

Mạng lưới đô thị nước ta phân bố tương đối đều đặn trên một lãnh thổ hẹp mà dài, ở hai đâu đất nước có hai thành phố lớn làm hạt nhân cho hai chùm đô thị đông đúc, được liên kết lại bằng chuỗi đô thị dài ven biển miền Trung với hạt nhân Huế – Đà Nẩng, được bổ sung bằng chuỗi đô thị miền Tây với hạt nhân là Cân Thơ và hai chuỗi đô thị ngắn trên biên giới phía Bắc và Tây Nguyên. Mạng lưới đô thị như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác thế mạnh của cả nước, của mỗi vùng, mỗi ngành; tập trung thích đáng nguồn lực cho các địa bàn và các vùng trọng điểm nhanh đưa lại hiệu quả cao. Đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước, có chính sách hỗ trợ,đối với mọi khó khăn, bảo đảm cho các vùng và các thành phần kinh tế đêu có lợi và đều được hưởng thành quả của sự phát triển.

Hệ thống đô thị có vai trò rất lớn trong định hưđng qui hoạch lãnh thổ. Hệ thống đô thị các cấp theo cấp bậc trung tâm của lãnh thổ với qui mô khác nhau là những điểm tựa của bộ khung cơ cấu kinh tế lãnh thổ, vừa mang chức năng trung tâm tạo vùng vừa là hạt nhân, “ngòi nổ” có sức đột phá lớn trong phát triển vùng và cả nước nếu có định hướng đúng đắn về qui hoạch và dầu tư.

Từ nay đến năm 2000 và có thể đến năm 2020, trên cơ sở định hướng tập trung vào các ngành kinh tế then chốt, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Năng, Biên Hoà, thành phố Hô Chí Minh, Cân Thơ, sẽ có mức tăng trưởng nhanh, vượt mức trung bình của cả nước. Các cực phát triển này có ý nghĩa rất quan trọng trong thời kỳ dầu khi nguồn vốn đầu tư còn mỏng, chưa có thể rải đều khắp. Mặc dù duy trì bộ khung cân đối là mục tiêu của qui hoạch lãnh thổ, việc xác định các điểm có sức đột phá, các trung tâm có khả năng vượt khung để tập trung cho đầu tư phát triển trong giai đoạn dầu là một vấn đè có ý nghĩa lớn trong chiến lược đầu tư vốn hiện nay.

Các đô thị nằm trên các hành lang tăng trưởng có quan hệ chặt chẽ với các đô thị hạt nhân nói trên cần được dầu tư nâng cấp, cải tạo và một số xây dựng mới. Đó là Nội Bài, Hoà Lạc, Vật Cách, Minh Đức, Đình Vũ, Kiên An, Đồ Sơn, Móng Cái … ở miền Bấc; Thủ Dầu Một, Nhơn Trạch, Long Khánh, Phú Mỹ … ở miền Nam và chuỗi đô thị Vạn Tường, Tân An, Tam Kỳ, Hội An… ở miền Trung. Như vậy, hệ thống các đô thị vệ tinh xung quanh các cực tăng trưởng lớn và dọc các hành lang sẽ tiếp nhận một khả năng tăng trưởng theo một “hiệu ứng dây chuyền”, đồng thời giải toả sự tập trung quá cao dân số và hoạt động kinh tế vào các đô thị lớn. Bên cạnh đó, chiến lược phát triển đô thị cần chú trọng phát triển các đô thị qui mô nhỏ cấp thị trấn, thị tứ là hạt nhân của bộ khung cơ sở để thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn.

Ngoài các đô thị mang chức năng trung tâm tạo vùng lãnh thổ, các đô thị với tính cách là trung tâm của các tỉnh cũng cần được chú ý nâng cấp, cải tạo và tăng trưởng xứng đáng với vai trò trung tám cấp lãnh thổ tương ứng. Bắc Bộ có các thị xã Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang, Lao Cai, Điện Biên, Hoà Bình, Ninh Binh, và các thành phố Thái Nguyên, Việt Trì, Nam Định, Hải Dương … Trung Bộ có các thành phố

Thanh Hóa, Vinh, Huế, Vạn Tường, Qui Nhơn, Nha Trang, Ban Mê Thuật, Đà Lạt … Nam Bộ có thành phố Mỹ Tho và các thị xã Tây Ninh, Long Xuyên, Cà Mau, Rạch Giá… Tại các đô thị, cần huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế và của nước ngoài cho việc dầu tư phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm cho nhân dân, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để phát huy vai trò hạt nhân của hệ thống đô thị trong việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong các khu vực và trên cả nước. Các dô thị ven biển phải trở thành điểm tựa để phát triển kinh tế biên và kinh tế hướng ngoại; các đô thị tiếp giáp với các nước láng giềng, cần giao lưu, hợp tác với bên ngoài, mở rộng hoạt động kinh tế vùng biên giới. Các đô thị nằm trong vùng du lịch trọng điểm cần trở thành điểm tựa cho việc phát triển ngành công nghiệp du lịch có qui mô ngàv càng tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước. Các thị trấn, thị tứ là điểm tựa để phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, làm cho nông dân và nông thôn ngày càng khá giả, giảm bớt sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giứa thành thị và nông thôn, hạn chế việc di dân từ nông thôn vào thành thị, khuyến khích nông dân rời ruộng không rời làng, phát triển ngành nghê trên địa bàn, không làm nông nghiệp nhưng vẫn sinh sống nông thôn.

Nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải gia tăng tốc độ đô thị hoá. Trong tình hình đó, nước ta cần rút kinh nghiệm của các nước trong khu vực và của các nước mới phát triển khác để hướng dô thị nưđc ta đi theo con đường phát triển bền vững. Muốn vậy, trước hết phải sử dụng hợp lý đất đô thị, rất thận trọng trong việc chuyển đất nông nghiệp màu mỡ trở thành đất đô thị. Sau nứa, phải quan tâm bảo vệ môi trường sống, hạn chế tác hại của thiên tai, bảo vệ tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ các di tích lịch sử và văn hoá có giá trị. Cuối cùng, kinh tế phải gắn với quốc phòng, tăng trưởng kinh tế phải kết hợp với tiến bộ và công bằng xã hội.