Định hướng tăng trưởng kinh tế của các thành phố lớn

định hướng tăng trưởng kinh tế của các thành phố lớn

Thành phố lớn không phải hiện nay mới có, theo tài liệu lịch sử thì cách đây 400 – 500 năm Rôma (Italia), Tây An (Trung Quốc) đã là những thành phố có dân số trên 1 triệu người. Còn sự xuất hiện rầm rộ trên phạm vi toàn thế giới các thành phố lớn lại là công việc từ sau đại chiến thế giới Tân thứ hai, chỉ tính riêng các thành phố có dân số trên 5 triệu người, thì năm 1950 toàn thế giới mới có 10, năm 2000 có thể tăng lên 25, tức trong vòng 50 năm tăng gấp 2,5 lần. Tại Việt Nam, số thành phố có dân số trên 1 triệu người năm 1975 chỉ có 1 (thành phố Hồ Chí Minh), hiện nay năm 1998 là 2 (thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội), dự tính đến năm 2010 sẽ có thêm các thành phố Hải Phòng, Biên Hoà, Đà Năng. Sự đóng góp vào GDP cả nước của các thành phố lđn này khoảng 30% năm 2000 và khoảng 45% năm 2010. Tình hình này cũng diễn ra tương tự ở Trung Quốc, số thành phố có dân số trên 1 triệu người năm 1950 mới có 8, cuối năm 1984 đã có 20; các thành phố chiếm 16,2% tổng sô’ doanh nghiệp công nghiệp cả nước, 31,6% tổng số công nhân viên chức nhà nước, 39,3% giá trị ròng tài sản cố định, 20,8% thuế nộp cho Nhà nước và 22,3% tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội.

Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế của các thành phố lớn, chẳng những vượt mức tăng trung bình của cả nưđc mà còn vượt mức tăng của khu vực đô thị nói chung, chủ yếu quyết định bởi các nguyên nhân khách quan dưới đây:

Thứ nhất, phát triển công nghiệp là nguyên nhân căn bản làm cho kinh tế của các thành phố lớn tăng trưởng vđi tốc độ cao. Phát triển công nghiệp tạo ra thị trường đầu tư rộng lớn, tạo ra việc làm ngày càng nhiều cho người lao động, đồng thời tập trung một số lđn của cải vật chất và của cải tinh thần. Xu thế tập trung các yếu tố sản xuất và của cải này tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn giữa thành thị và nông thôn, giứa các đô thị lớn với các đô thị vừa và nhỏ về phương thức kinh doanh và phương thức sinh hoạt, do vậy mà ngày càng tăng cường sức cuốn hút của các thành phố lớn.

Thứ hai, sự cải thiện điều kiện giao thông làm cho vị trí của các thành phố lớn ngày càng nổi bật. Sự hình thành và phát triển các thành phố lớn thường có quan hệ mật thiết với nhân tố địa lý. Phàm là thành phố lđn đều nằm trên trục giao thông chính hoặc đầu mối giao thông thuỷ bộ, có địa bàn hoạt động và thị trường rộng lđn. Sự cải thiện điều kiện giao thông không chỉ tăng cường công năng giao lưu của thành phố lớn, mà điều quan trọng hơn là liên kết thành phố lớn với khu vực đất đai rộng lđn, làm cho nó thực sự trở thành trung tâm kinh tế của vùng hoặc của cả nước.

Thứ ba, tính phiến diện của chính sách phát triển kinh tế đô thị. Các đô thị Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc và các đô thị miền Nam Việt Nam trước năm 1975 đều mang nặng tính tiêu phí, phi sản xuất. Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế đô thị nưđc ta trong một thời gian dài thiên về chuyển các đô thị là trung tâm tiêu phí trước đây trở thành trung tâm sản xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, đồng thời cường điệu tính hoàn chỉnh của hệ thống kinh tế đô thị. Kết quả là một mặt đặt sự phát triển kinh tế đô thị trên cơ sở tái sản xuất mở rộng của ngoại diên, một mặt làm cho các đô thị trở thành các hệ thống khép kín, phong toả lẫn nhau; trong phát triển kinh tế đô thị, lấy việc hoàn thiện hệ thống các ngành sản xuất là tiêu chí hạt nhân mà xem nhẹ các đặc trưng của đô thị, làm cho các thành phố phát triển một cách phiến diện, không đồng bộ, kém hiệu quả.

Không kể nguyên nhân tăng trưởng kinh tế của các thành phố lđn như thế nào, sự phát triển chưa từng thấy trong mấy chục năm ngắn ngủi của chúng, chứng tỏ chúng có những ưu thế rõ ràng, được biểu hiện ở các mặt sau:

Một là, phân công xã hội phát triển và trình độ hiệp tác cao. Thành phố lớn có nhiều ngành kinh tế, tính tổng hợp về kinh tế tương đối mạnh. Xét từ cơ cấu các ngành kinh tế, có đầy đủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tiền tệ, giao thông, xây dựng, thị chính, khoa học, văn hoá, giáo dục; xét từ tính chất hoạt động, bao gồm sản xuất, sinh hoạt và dịch vụ, sự hoạt động giứa các ngành đan xen lẫn nhau, kết hợp với nhau, hình thành một hệ thống lớn có sự phân công hợp lý. Giứa các doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hiệp tác với nhau và từ trong sự hiệp tác thu được hiệu quả kinh tế rõ ràng.

Hai là, tính tập trung mạnh và hiệu quả kinh tế qui mô rố rệt. Tính tập trung của thành phố lớn không chỉ biểu hiện ở tập trung dân số, mà còn biểu hiện chủ yếu tập trung sản xuất và lưu thông. Thành phố lớn có môi trường dầu tư tốt, có đội quân lao động tương đối lành nghiề, có thị trường vô cùng rộng lđn, đây là điều kiện của sự tụ hội công nghiệp hiện đại. Thí dụ: 10 thành phố công thương lđn của nước Mỹ đã tập trung 293 trong số 1.000 doanh nghiệp lớn của nước đó. Tokyo có 794 trong số 1.500 doanh nghiệp công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản; đại bộ phận các doanh nghiệp lớn và vừa của nước ta hiện nay cúng chủ yếu phân bố các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng.

Ba là, khoa học công nghệ và văn hoá, giáo dục tiên tiến. Thành phố lớn được bố trí các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại có sự phân công tỷ mỷ, có các công cụ sản xuất, thực nghiệm và đo thử hiện đại, tập trung đội ngũ lao động lành nghề, người làm công tác khoa học và các tổ chức văn hoá, giáo dục, nghiên cứu khoa học, đồng thời sử dụng các phương tiện thông tin và giao thông hiện đại, tạo khả năng rất lớn cho việc truyền bá, giao lưu thông tin, công nghệ và tri thức. Lịch sử phát triển sản xuất chứng tỏ các ngành công nghiệp tân tiến đêu trước hết được ra đời trong các thành phố lớn.

Bốn là, công năng phục vụ mạnh, ngành sản xuất thứ ba phát triển. Tỷ trọng của ngành kinh tế dịch vụ, không chỉ biểu thị trình độ phát triển kinh tế của thành phố Iđn, mà cũng là tiêu chí quan trọng của hiện đại hoá đô thị. Sự phát triển của công nghiệp đô thị đề ra yêu cậu ngày càng cao đối vđi việc mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng phục vụ của các ngành dịch vụ, nhất là sự ra đời và lđn mạnh của ngành công nghiệp thông tin, làm cho ngành kinh tế dịch vụ đỏ thị và hệ thống sản xuất đô thị kết hợp chặt chẽ với nhau. Tại nhiều nước phát triển, tỷ trọng tựu nghiệp của ngành kinh tế dịch vụ đạt 60 – 70%, tỷ trọng giá trị sản lượng cũng đạt 40 – 50%.

Muốn phát triển nhanh chóng nền kinh tế quô’c dân, chúng ta không thể không dựa vào các thành phô’ lớn, nhưng sự tăng trưởng với tốc độ cao nền kinh tế các thành phố lớn lại đối diện vổi vấn đề bùng nổ dân số và trầm trọng hoá “bệnh đô thị”. Để tìm ra giải pháp đúng đắn, phải thấu hiểu nhận thức lý luận khoa học. Như mọi người đều biết, phát triển kinh tế đô thị có 3 mặt hàm nghĩa: Tăng trưởng dân số, tăng trưởng vật chất và tăng trưởng giá trị. Tiền đề nhận thức mà chúng ta kiến lập là giữa 3 mặt này có thể tách biệt, tức khi kinh tế đô thị phát triển tới một giai đoạn nhất định loại tăng trưởng nào đó có thể phát triển một cách độc lập trên cơ sở cân đối giữa 3 mặt không bị phá hoại nghiêm trọng. Nói cụ thể, thành phố lđn có thể thực hiện quá trình tăng trưởng giá trị dưđi tiền đề khống chế qui mô dân số.

Quan điểm trên được đưa ra xuất phát từ tình hình thực tế của nước ta tồn tại một đội quân thất nghiệp và bán thất nghiệp đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề, có chất lượng tương đối cao, sự mở rộng tái sản xuất của các thành phố Iđn hoàn toàn có thể dựa vào sự bổ sung của thị trường sức lao động này; cơ cấu các ngành kinh tế của các thành phố lớn nưđc ta đang trong quá trình chuyển đổi từ ngành thâm canh sức lao động đơn thuần sang các ngành thâm canh vốn và công nghệ, thực hiện phát triển kinh tế các thành phố lớn bằng cách tăng giá trị mà không tăng, thậm chí giảm nhu cầu đối với sức lao động; tăng trưởng giá trị kinh tế của các thành phố lđn qui đến cùng không phải chỉ là sự mở rộng hệ thống sản xuất vật chất đơn thúần, theo quan điểm kinh tế thị trường thì sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ và xây dựng đô thị cúng có ý nghĩa quan trọng như sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất. Như vậy sẽ giảm thiểu tính đơn nhất của nhu cầu về sức lao động, thích ứng với đặc điểm và điều kiện của thị trường sức lao động hiện nay, bảo đảm đạt tới mục tiêu tăng trưởng giá trị của đô thị đi đôi với khống chế hữu hiệu qui mô dân số đô thị.

Theo quan điểm trên, sự tăng trưởng kinh tế của các thành phố lđn có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp như thông qua việc phân chia các khu vực chức năng trong đô thị để giải quyết vấn đề môi trường sinh thái đô thị, thông qua việc xây dựng nhà để giải quyết vấn đề nhà đô thị. Trong đó, đặc biệt quan trọng mang tính chiến lược lâu dài là phát triển các đô thị vê tinh của thành phố lớn nhằm giảm bớt dân số và cơ sở sản xuất của nó; cải tạo nâng cấp kết cấu hạ tầng của thành phố lớn, chuyển mạnh cơ cấu kinh tế của nó sang các ngành thâm canh vốn và công nghệ, phát triển mạnh ngành kinh tế dịch vụ.