Định hướng tăng trưởng nền kinh tế quốc dân

Định hướng tăng trưởng nền kinh tế quốc dân

Việc nghiên cứu định hướng tăng trưởng kinh tế đô thị cần được bắt đầu từ sự phân tích định hướng tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, vì rằng kinh tế đô thị vđi tính cách là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, làm cho định hướng tăng trưởng của nó có nhiều điểm tương đông với định hướng tăng trưởng của toàn bộ hên kinh tế quốc dân.

Việt Nam đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiếp tục tăng trưởng kinh tế với tốc độ caò là điều kiện cơ bản, có tính sống còn để đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Muốn vậy phải duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô: Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần và mở cửa, chuyển mạnh nền kinh tế sang hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu và chú trọng nhập khẩu mấy móc, công nghệ hiện đại. Tất cả đều nhằm mục đích nhanh chóng tiếp cận, hội nhập với thị trường khu vực và thế giđi, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ 1995 – 2020 đạt trên 10%, GDP bình quân đầu người năm 2000 sẽ tăng gấp đôi năm 1990, năm 2020 sẽ tăng 4-5 lần nãm 2000[21].

Yếu tố quyết định của sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao nói trên là vốn.. Cân có chính sách huy động tối đa mọi nguồn vốn, coi nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn ngoài nước là quan trọng. Thời gian tới, cần tăng nhanh tỷ lệ tiết kiệm dành cho đầu tư đạt trên 30% GDP – càn áp dụng các hình thức hứu hiệu để thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và các khoản viện trợ chính thức (ODA). Tổng số vốn cho thời kỳ kế hoạch 1995 – 2000 là 41 – 42 tỷ USD, khoảng 50% là nguồn vốn nưđc ngoài, trong đó 30% là nguồn FDI. Có vốn rồi thì việc sử dụng vốn trở thành một vấn đề rất quan trọng. Vốn đầu tư của Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nó đặt cơ sở và tạo môi trường định hướng cho các nguồn vốn đầu tư khác. Vốn nhà nước cần trước hết đâu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, các ngành kinh tế then chốt, các khu vực kinh tế trọng điểm.

Nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tàng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trọng GDP. Năm 2000, nông nghiệp chiếm khoảng 19- 20%, công nghiệp và xây dựng 35%, dịch vụ 45 – 46% GDP. Vào năm 2010, nông nghiệp xuống còn 8,5%, công nghiệp và xây dựng sẽ tăng lên 39,6%, dịch vụ sẽ tăng lên 51,4% GDP[1].

Trong điều kiện tiềm năng có hạn, càn tập trung mọi nguồn lực của quốc gia vào việc phát triển nhứng ngành then chốt và địa bàn trọng điểm. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần luôn luôn coi trọng sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản cho xuất khẩu và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp. Trên cơ sở đó, cần tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp then chốt, hưđng mạnh sang xuất khẩu, thay thế có hiệu quả nhập khẩu. Công nghiệp chế biến và chế tạo, nhất là công nghiệp chế tạo máy móc và điện tử có vị trí cơ bản và ngày càng quan trọng. Công nghiệp năng lượng và nhiên liệu được ưu tiên đầu tư phát triển, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp và tạo nguồn nguyên liệu cơ bản cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sắt thép, xi măng, hoá chất … các công trình kết cấu hạ tàng, đặc biệt là giao thông vận tải và thông tin liên lạc, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu trong nước và vđi quốc tế, cũng cần được ưu tiên đầu tư và phát triển. Càn chú ý phát triển công nghiệp nông thôn nhằm đa dạng hoá kinh tế nông thôn, từng bưđc giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, chuyển ngày càng nhiều lao động nông thôn sang làm công nghiệp và dịch vụ.

Cần phát huy tối đa lợi thế so sánh trong việc lựa chọn các địa bàn trọng điểm đầu tư phát triển, nhằm tạo động lực, dầu tàu lôi kéo sự phát triển của cả vùrig, cả nưđc. Ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ và 5 tuyến hành lang gắn với chúng sẽ có tốc độ tăng trưởng vượt trước gấp 1,5 – 1,7 lần tốc độ bình quân của cả nước, thu hút trên 50% s vốn đầu tư của thời kỳ, và đóng góp khoảng 70% mức gia tăng tổng GDP. Đồng thời, phải chú trọng lợi ích kinh tế – xã hội của sự phát triển đồng đều, hỗ trợ các vùng xa xôi, hẻo lánh, điều kiện sinh sống cực kỳ khó khăn, là “điểm nóng” trong vùng và các nơi cửa khẩu, hải đảo, biên giđi, căn cứ địa cách mạng