Đô thị thời cận đại

đô thị thời cận đại

Nền văn hoá phục hưng thế kỷ XV, XVI gắn liền với sự chuyển dịch xã hội từ phong kiến sang tư bản. Nước Pháp là một trong các trung tâm văn hoá quan trong của thời kỳ phục hưng châu Âu. Dưới triều đại Louis xrv, hàng loạt hoạt động xây dựng qui hoạch cải tạo thành phố Paris đã được tiến hành: Quảng trường Thắng Lợi, Quảng trường Hoà Hợp. Một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển đô thị đã được mở dầu bằng việc xây dựng thành phố Pêtecbua ở Nga, thành phố London ở Anh, thành phố Roma ở Ý …

Cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra giữa thế kỷ XVIII đã mở ra một thời kỳ mới của sự phát triển đô thị. Rất nhiều nước Phương Tây sau khi trải qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, các đô thị được phát triển và lớn mạnh vđi tốc độ chưa từng có song song vđi quá trình công nghiệp hóa. Công nghiệp hoá làm cho sự phát triển đô thị phát sinh những biến đổi về chất, chủ yếu biểu hiện ở các mặt sau đây:

Một là, công nghiệp hoá cải biến tính chất của đô thị, biến các đô thị mang tính quân sự, tính tôn giáo, tính hành chính, tính thương nghiệp, tính tiêu dùng thành đô thị mang tính công nghiệp, tính sản xuất, làm cho các đô thị được phát triển đi lên trên cơ sở công nghiệp lớn mạnh vứng chắc.

Hai là, công nghiệp hoá kết thúc hệ thống sản xuất và phương thức sản xuất công trường thủ công và bán nông nghiệp của đô thị, thay thế bằng hệ thống sản xuất và hình thức tổ chức công nghiệp đại cơ khí, làm cho hoạt động kinh tế của đô thị phát triển theo hướng xá hội hoá, chuyên môn hoá.

Ba là, công nghiệp hoá xoá bỏ tình trạng cát cứ giữa các đô thị và thị trường chật hẹp “Tự cấp tự túc”, thay thế bằng hệ thống thị trường mở cửa, làm cho đô thị phát triển theo nguyên tắc thị trường và tính khu vực rộng rãi của hợp lý hoá kinh tế.

Bốn là, công nghiệp hoá đem lại xu hưđng tập trung tương đối công nghiệp trên khu vực, để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm lợi ích hiệp tác và ưu thế cạnh tranh của tư bản doanh nghiệp. Khu công nghiệp xuất hiện và tách rời khu dân cư, khu thương nghiệp. Xu hướng này ảnh hưởng trực tiếp đến trình tự hình thức mở rộng và bố cục của các ngành sản xuất nội bộ đô thị.

Năm là, công nghiệp hoá tạo hình thức lực lượng sản xuất mới mẻ, nhất là việc phát minh máy động lực và cuộc cách mạng phương tiện giao thông, không chỉ tạo điều kiện cho sự bố cục tập trung công nghiệp, mà còn trực tiếp thúc đẩy cách mạng công nghiệp, giảm bớt một số lượng lớn nông dân với tính cách là dinh luỹ của xá hội truyền thống, thay thế bằng công nhân làm thuê, do vậy mà dân số từ trạng thái phân tán ở nông thôn trưđc đây tập trung lên đô thị, tăng nhanh sự tích tụ của hệ thống sản xuất quốc dân và nâng cao vị trí của đô thị.

Sáu là, sự chấn hưng của công nghiệp hoá, làm cho hàng loạt thành phố công nghiệp mđi được xây dựng nhanh chóng, công nghiệp đại cơ khí có dặc trưng vận động hướng tâm: Doanh nghiệp công nghiệp lớn yêu cầu hàng trăm, hàng ngàn người lao động tập trung lại với nhau để cùng lao động; yêu cầu nhiều nhà máy tập trung tương đối tại một khu vực, đế tiện lợi cho việc cung cấp sản phẩm và phục vụ lẫn nhau; yêu cầu có sự phát triển mức độ tương đối cao của thương nghiệp, giao thông vận tải, thông tin, liên lạc và các ngành phục vụ khác, để phục vụ cho việc thực hiện giá trị hàng hoá và tăng nhanh lưu thông hàng hoá; cũng yêu cầu có sự phát triển tương đối của ngành tài chính, tiền tệ, để đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp … Tất cả những cái đó tất nhiên dẫn đến sự tập trung nhanh chóng dân số và hình thành đô thị. Ví dụ nước Anh trong quá trình công nghiệp hoá, song song vđi sự phát triển nhanh chóng của việc khai thác tài nguyên than và sắt tương đối phong phú và giao thông thuận lợi đã mọc lên hàng loạt thành phố ìĩiới như Manchester, Postern,

Nước Anh là khu vực đô thị hoá sớm nhất của các quốc gia trên thế giới. Trong vòng nửa thế kỷ từ năm 1801 đến năm 1851, đô thị có dân số trên 5.000 người của nước Anh đã từ 108 tăng 265, tỷ trọng dân số đô thị chiếm trong tổng số dân số cả nước đã từ 25% tăng lên 50,1%, trở thành quốc gia dầu tiên trên thế giới có dân số đô thị lớn hơn dân số nông thôn. Sau thế kỷ XIX, các nước Pháp, Đức, Mỹ cũng tiếp tục hoàn thành cách mạng công nghiệp, quá trình đô thị hoá được triển khai rộng rãi ở các nước Phương Tây đã làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng. Năm 1921, dân số đô thị của nước Anh chiếm 79,3%, nước Pháp chiếm 46,7%, nước Đức chiếm 62,4%, nước Mỹ chiếm 51,4%. Bắt đầu xuất hiện một số đô thị lớn có dân số tập trung cao như năm 1920, dân số của thành phố London là 4.483 ngàn người, của thành phố Paris là 2.806 ngàn người, của thành phố Berlin là 4024 ngàn người, của thành phố New York là 5.620 ngàn người.

Từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, song song với sự phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, tỷ trọng dân số đô thị chiếm trong tổng số dân số thế giới vào đâu thế kỷ mới là 14%, đã tăng lên 21% vào năm 1925, 28,2% vào năm 1950, 39% vào năm 1975 và 41% vào năm 1985, dự toán đến cuối thế kỷ này sẽ vào khoảng 60%.

Lịch sử nhân loại chứng minh, công nghiệp hoá dẫn đến đô thị hoá, là một hiện tượng kinh tế – xã hội mang tính phổ biến trên thế giới, bất luận là xã hội tư bản chủ nghĩa hay xã hội xã hội chủ nghĩa, bất luận là các nước phát triển hay các nước đang phát triển. Vấn đê chỉ là tuỳ thuộc vào xã hội và quốc gia khác nhau mà đô thị có đặc điểm riêng.