Đô thị thời cổ đại

Sự ra đời và phát triển của đô thị là một quá trình lịch sử. Cách đây hàng ngàn năm con người đã biết xây dựng cho mình những điểm dân cư khá văn minh. Những quan điểm trong xây dựng và phân phối các điểm dân cư chứng tỏ ngay từ thời xa xưa con người đã có ý thức trong việc lựa chọn cho mình một nơi sống và cách sống thích hợp.

Đô thị thời cđại

Thời kỳ này được tính từ 9.000 năm trước công nguyên đến 500 năm sau công nguyên. Quan điểm về xây dựng đô thị và một số nhân vật nổi tiếng có tính chất quyết định của thời kỳ xuất hiện vùng Lưỡng Hà (Ai Cập), vùng Tiểu Á, Trung Á, Trung Quốc và Ân Độ. Người cổ xưa quan niệm rằng cần xây dựng các điểm dân cư tập trung với qui mô không lớn lắm, thường mỗi điểm dân cư là một bộ lạc, được xây dựng dọc ven sông và coi nguồn nước là yếu tố cơ bản của sự tồn tại và phát triển. Ve kinh tế, động lực chính của sự phát triển các điểm dân cư là các cơ sở sản xuất nông nghiệp và thương nghiệp. Vê xã hội, nền tảng dân tộc và tôn giáo được dùng làm tôn chỉ cho hoạt động chính trị trung tâm của các điểm dân cư. Vê an ninh quốc phòng, các điểm dân cư được xây dựng tập trung ở nhứng nơi dễ dàng cho việc quan sát kẻ địch tấn công.

a. Đô thị Ai Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại sống tập trung dọc theo bờ sông Nin. Điểm dân cư đô thị thể hiện rõ tính chất quyền lực và tôn giáo. Tư tưởng của các vua chúa Ai Cập lúc bấy giờ coi cuộc sống tương lai sau khi chết là có giá trị, cho nên họ đã tập trung xây dựng các khu lăng mộ – các quần thể kim tự tháp.

Đô thị Ai Cập cổ đại hạ luu sông Nin, được xây dựng vào khoảng 3.500 trước công nguyên. Thí dụ thành phố Kahan, là hình chữ nhật, có mật độ xây dựng cao, cơ cấu thành phố phân rõ khu chủ nô và khu nô lệ. Khu ở cho người giàu là nhà ở có vườn với diện tích môi lô 600 m2. Nhà ờ cho người nghèo là khu thấp tầng, các đường phố đả được trồng cây. Thành phố được qui hoạch theo dạng đa tâm và thờ thần mặt trời, do vậy nhà ở phải có phần thông với mặt trời. Năm 1936 trước công nguyên là thành phố lớn nhất thế giđi, với số dân trên 10 vạn người.

b. Đô thị Hy Lạp cổ đại

Các nhân vật nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại là Hyppodamus (khoảng 500 năm trước công nguyên) và Aristotle (422 – 384 trước công nguyên) đã có nhiều đóng góp có giá trị đặc biệt cho việc hình thành và phát triển lý luận qui hoạch và xây dựng đô thị.

Thành phố bàn cờ tại Miletus của Hyppodamus là điểm đặc trưng của qui hoạch đô thị Hy Lạp cổ đại. Thành phố được chia thành các lô phố với kích thước 47,2mx25,4m, theo hệ thống đường ô cờ với hai hướng chính nam bắc và đông tày. Tuyến đường đông tây rộng 7,5 m đi qua trung tâm có thể đi xe, tuyến đường bắc nam rộng 3 – 4 m có độ dốc lớn chủ yếu dành cho đi bộ. Trong thành phố có các trung tâm, nơi tập trung các đền thờ và nhà ở của các quan toà cao cấp, và các quảng trường chính, nơi tập trung các hoạt động thương nghiệp và hành chính của thành phố. Suốt trong mấy thể kỷ trước công nguyên do chính trị cổ Hy Lạp tiến bộ nên đô thị Hy Lạp cổ đại được phát triển mạnh mẽ, đã hình thành quan điểm thành phố nhà nước lý tưởng có qui mô 10.000 dân được chia thành 3 phần và 3 cấp theo hệ thống luật lệ.

Plato cho rằng địa điểm xây dựng đô thị cần trên cơ sở hướng gió, nguồn nước và khai thác tài nguyên; mỗi thành phố phải có vùng ảnh hưởng của mình, cách biển ít nhất 14 km; phải có cảng để phát triển thương nghiệp và hàng hải. Qui mô của một thành phố nhà nước lý tưởng là 5.040 người. Đất nông nghiệp được chia thành 12 khu vực, trung tâm thành phố có các đen thờ, nhà và nhà làm việc của các quan chức cao cấp; xung quanh là các lô nhà của dân chúng. Thành phố cổ Hy Lạp không có thành, các hoạt động thương nghiệp được bố trí bên ngoài thành phố.

Aristotle đẽ ra 4 điều kiện cơ bản cho công tác qui hoạch đô thị là sức khoẻ, an ninh quốc phòng, ổn định chính trị (hành chính và kinh tế) và thẩm mỹ. Dân số và các khu chức năng đô thị được phân chia theo 3 thành phần lao động: Trí thức, bình dân và thợ thủ công. Aristotle xuất phát từ lý do an ninh, bố trí quảng trường chính dưới trung tâm giứa các công trình công cộng và khu nhà của các quan chức cao cấp. Quảng trường buôn bán được chuyển ra phía ngoài thành phố cùng với khu nhà của các nhân viên nhà nước cấp thấp, các nhà buôn, thợ thủ công và nông dân.

c. Đô thị La Mã cổ đại

Đế quốc La Mã được hình thành từ thế kỷ thứ III trước công nguyên, hưng thịnh vào thế kỷ thứ II, thế kỷ thứ I đến năm 30 trước công nguyên.

Kiến trúc đô thị cổ đại La Mả chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Hy Lạp. Thành phố cố La Mã thể hiện sự hưng thịnh của đế chế cộng hoà La Má. Trong thành phố có rất nhiều quảng trường và nhóm quảng trường với hệ thống các công trình công cộng lớn như nhà hát, đấu trường, nhà tắm, mậu dịch, chợ, cung điện, nhà thờ, miếu tự, đài kỷ niệm. Nội dung và bố cục quảng trường rất phức tạp, được trang trí lộng lẫy và công phu, phản ánh mức độ giàu sang và ý thức thẩm mỹ cao của giai cấp thống trị đương thời.

Đặc điểm truyền thống của các đô thị La Mã cổ đại là tính chất phòng thủ (lấy thành phố Timgat làm thí dụ). Mặt bằng thành phố thường có dạng như trại lính: hình vuông, xung quanh có tường luỹ bảo vệ, có 4 cổng chính và các trục đường chính nam bắc và đông tây nối với các cổng chính. Trung tâm thành phố đặt tại các giao điếm giữa 2 trục đường. Thành phố phát triển thêm các khu dân cư phía ngoài theo đường nhập thành. Cách bố cục thành phố này cũng tương tự như cách bố cục thành phố cổ Hy Lạp.

d. Nền văn minh Lưỡng Hà (Mezopotamas)

Được hình thành từ năm 4.300 năm trước công nguyên. Babylon nằm trên bờ sông Euphrat là thành phố do vua Netmucazera II xây dựng vào khoảng năm 602 – 562 trước công nguyên, được bao bọc bởi hệ thống kênh đào thông với sông Euphrat, tiếp đến là hệ thống thành cao với nhiều lớp gạch. Trung tâm thành phố là cung điện và nhà thờ được xây dựng theo kiểu Kim tự tháp cao tới 90 m.

Bên cạnh thành phố là vườn treo Babylon, được coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới.

Nền vãn minh Lưỡng Hà đã tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của nhiều thành phố. Vật liệu chính để xây dựng các thành phố vùng Lưỡng Hà luc bấy giờ là gạch phơi khô làm bằng phù sa của sông Euphrat.

e. Đô thị Trung Quốc và An Độ cổ đại

Từ 3.000 năm trước công nguyên, đã có nhiều đô thị được hình thành tại Trung Quốc và Ấn độ.

Ở Trung Quốc, ngay từ thời nhà Hạ (khoảng cuối thế kỷ 22 – dầu thế kỷ 17 trưức công nguyên) đã có thành phố cổ Ngu Dương (khoảng huyện Đăng Phong, Hà Nam), thời nhà Thương (khoảng thế kỷ 17 – thế kỷ 11 trưđc công nguyên) đã có thành phố Thành Thang (khoảng Trịnh Châu, Hà Nam). Thành phố Trường An (Tây An, Thiểm Tây) thời Tây Hán (năm 206 trước công nguyên – năm 25 sau công nguyên) là thành phố trung tâm thương nghiệp và chính trị lớn nhất Trung Quốc, có qui mô lớn hơn 4 lần so với thành phố La Mã châu Âu.

Tình trạng cát cứ phong kiến và chiến tranh liên miên thời Xuán Thu (năm 220 – 280) đã tăng nhanh nhịp độ hình thành đô thị Trung Quốc. Sự phát triển lực lượng sản xuất và trao đổi sản phẩm thời kỳ nà}’, đã làm cho các đô thị qui mô lớn và thịnh vượng mọc lên rầm rộ, thí dụ như thành phố Lâm Truy của nước Tê (năm 479- 502) có dân cư 7 vạn hộ với 20 vạn người.