Đô thị Việt Nam đến cuối thời kỳ nhà Hậu Lê

đô thị việt nam đến cuối thời kỳ nhà hậu lê

Dấu vết đô thị đầu tiên ở nước ta là thành cổ Loa (Loa thành) của Thục An Dương Vương, được xây dựng vào năm 25 trước công nguyên ở tả ngạn sông Hồng. Thành có ba đường chính dài trên 16 km, có hào sâu bao bọc nối với sông Hoàng nhằm tăng cường khả năng phòng thủ. Loa thành là trung tâm chính trị của nước Âu Lạc, trong thành không chỉ có cung điện của nhà vua, các trại lính mà còn có nhà của dân thường. Đây là điểm dân cư tập trung đông nhất lúc bấy giờ, dân số ước tính có tới hàng ngàn người.

Trong thời kỳ Bắc thuộc, một số đô thị khác mang tính chất quân sự và thương nghiệp đá được hình thành như Lung Lâu, Long Biên, Từ Phố, Bạch Tường, Hậu Lộc. Một trong nhứng đồ thị lớn nhất thời Bắc thuộc cho đến thế kỷ XVIII là Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Năm 865, tướng Cao Biền (Trung Quốc) đã mở rộng thành để chống quân khởi nghĩa, thành dài 1982,5 trượng (7930 m), cao 2,5 trượng (10m), trên tường thành có 55 điếm canh.

Đinh Tiên Hoàng sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, đả đóng đô Hoa Lư (Ninh Bình). Hoa Lư là một nơi hiểm trở, dễ phòng thủ nhưng khó phát triển. Năm 1010 Lý Thái Tổ đã quyết định rời đô về trung tâm Đại La (trong thành Tổng Bình cũ) và đổi tên là Thãng Long. Thăng Long có hệ thống thành dài 25 km bao bọc xung quanh các khu vực cung điện và các điểm dân cư. Đến năm 1149 – đời vua Lý Thánh Tông, thương cảng Vân Đồn được thành lập để làm nơi buôn bán vđi nước ngoài. Dưới thời nhà Trần, Thăng Long và Vân Đồn vẫn là hai đô thị nổi bật. Khi Hô Quí Ly lên ngôi vua, để thực hiện quyết định rời đô, đá cho xây dựng huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa thành Tây Đô (thành

Tây Giai, thành nhà Hò). Thành được xây dựng trên khu đất bằng phẳng, hình chứ nhật, chiều dài 900 m, chiều rộng hơn 700m. cổng thành là 3 vòm ghép đá với kỹ thuật rất cao, rất công phu; Trong đó có những phiến đá dài tới 7m, cao l,5m, nặng tới 15 tấn.

Sau khi chiến thắng quân nhà Minh, Lê Lợi cho xây dựng lại đất nước. Nhà Lê vẫn đóng đô Thăng Long, năm 1430 đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh, được tu sửa từ cung điện, đền đài đến Hoàng Thành, La Thành. Theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1470, địa giđi Hoàng Thành thời nhà Lê gôm Hoàng Thành thời Lý – Trần cộng với khu vực mở rộng phía đông ra tận bờ sông. Ngoài Hoàng Thành, phố phường được phát triển, hoạt động buôn bán được tăng cường mạnh mẽ, các hiệu buôn người Hà Lan, Anh mọc lên dọc theo bờ sông. Vào thế kỷ XVII, Thăng Long đã là một đô thị lớn châu Á, dân số trong thành ngày càng đông, khu dân cư đã có nhà hai tầng với nhiều phường sản xuất thủ công nổi tiếng như giấy Yên Thái, dệt Thuỵ Chương, nhuộm Hàng Đào…

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các đô thị Thăng Long (Kẻ Chợ), Phố Hiến, Hội An với tính cách là ba trung tâm thương nghiệp lớn của cả nước, vẫn được tiếp tục phát triển, từ cuối thế kỷ XVII Nam Bộ đã hình thành ba trung tâm buôn bán mới: Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai, Mỹ Tho trên sông Tiền, Hà Tiên trên bờ vịnh Thái Lan. Ba trung tâm thương nghiệp này phồn thịnh vào thế kỷ XVIII, có vai trò quan trọng trong việc buôn bán với các vùng và với nước ngoài, là dầu mối thu gom hàng nội địa để xuất khẩu và phân phối hàng nhập khẩu vào Nam Bộ.