Đô thị Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn

đô thị việt nam dưới thời nhà Nguyễn

Từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, khi các nước Phương Tây đã hoàn thành công nghiệp hoá, có nền kinh tế hàng hoá phát triển và bước vào xã hội văn minh thì Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Nhứng luật lệ phong kiến ngặt nghèo đã kìm hám sự phát triển của sản xuất hàng hoá, dẫn đến chỗ làm chậm quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá. Dân số đô thị lúc bấy giờ chỉ chiếm khoảng 1 – 2% dân số cả nước.

Sau khi ba trung tâm buôn bán Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên suy sụp, một trung tâm buôn bán mới xuất hiện là Bến Nghé – Sài Gòn. Trong vùng Bến Nghé đã có nhiều khu vực chợ nằm cách nhau không xa như chợ Bến Thành, chợ Bến Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Nguyễn Thực, chợ Tân Cảnh Sài Gòn gan trung tâm Bến Nghé, có đường thuỷ nối với sông Cửu Long, đường bộ nôi với Biên Hoà, Bà Rịa, Trung Bộ.

Nguyễn Ánh sau khi giành chính quýền đã chọn Huế làm kinh đồ. Thành phố Huế bắt đầu được xây dựng vào năm 1830 ở khu vực Chánh Dinh, tức Cấm Thành. Thành Huế nằm trên bờ sông Hương, có hình vuông được cải tiến mở rộng các trạm canh, mỗi cạnh dài 2235m. Thành cao 6m, dày 0,8m, xung quanh có hào bao bọc sâu tới 4m, có nơi rộng 60m. Trong thành có hàng trăm cung điện của nhà vua được bố trí theo hệ đối xứng, theo trục hướng tâm là điện Thái Hoà nhìn thẳng ra núi Ngự Bình. Xung quanh Cấm Thành là cung thành, là khu vực xây dựng các cung điện, nơi làm việc của các quan lại phong kiến, phần sau của thành so với bờ sông Hương là khu vực nhà ở. Trong thành không có nhà cao tầng và kiến trúc dồ sộ, nhà được xây dựng theo kiểu truyền thống, làm bằng gỗ; nhà dân không giống và không cao hơn nhà của vua quan phong kiến.

Thế kỷ XIX, nước ta đã xuất hiện nhiều trung tâm thương nghiệp nhưng điển hình hơn nữa cả là Hà Nội và Hội An. Bước sang thế kỷ XIX, Hà Nội chuyên dần từ vị trí một kinh đô sang vị trí một trấn thành rồi tỉnh thành. Vai trò trung tâm chính trị của nó tuy có bị bị giảm sút trong thực tế, song vai trò trung tâm kinh tế của nó lại được tăng cường. Hà Nội lúc này bán các loại hàng lâm sản và vừa sản xuất, vừa bán các mặt hàng thủ công. Điều khiển cửa hàng là những thương gia cố định chứ không phải đại diện cửa hàng thủ công chuyên nghiệp.

Hội An là một đô thị nhỏ nằm trên tả ngạn sông Thu Bồn. Trước kia, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Nhật Bản đã từng có thương điếm đây. Đến thế kỷ XIX, công việc buôn bán ở Hội An hoàn toàn nằm trong tay các thương gia Hoa Kiều và một số ít thương nhân Việt Nam. Đây là trạm trung chuyển các loại lâm thổ sản, chủ yếu là tơ lụa và đường, của vùng Quảng Nam và nam Trung Bộ trước khi đến Đà Năng và Gia Định. Để củng Cchính quyền các địa phương, nhà Nguyễn đã cho xây dựng hàng loạt thành quách ở các tỉnh lỵ, là điểm xuất phát cho sự hình thành hệ thống đô thị Việt Nam. Đô thị thời kỳ này chủ yếu chỉ phát triển hệ thống hành chính, quyền lực quốc gia phong kiến vđi thành quách bao quanh có tác dụng bảo vệ. Trong thành xây dựng các công trình nơi làm việc và nhà của các quan lại và các trại lính. Phía ngoài thành là các khu dân cư và phố phường buôn bán của dân thường. Như vậy trong câu trúc đô thị đá có sự cách biệt rõ ràng giữa chính quyền và dân chúng.

Thời Pháp thuộc, ngoài khu vực thành quách, các khu dân cư được phát triển khá mạnh mẽ, phố xá xuất hiện ngày càng nhiều. Nhiều đô thị đã trở thành những trung tâm thương nghiệp lớn và dần dần lấn át cà thành quách, có nơi đã mất hẳn ranh giới. Dưđi sự thống trị của thực dân Pháp với chính sách khai thác các nguồn tài nguyên ở thuộc địa đã xuất hiện hàng loạt các đô thị mới với tính chất khác nhau như Hòn Gai, cẩm Phả, Lao Cai là đô thị khai thác; Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Nam Định, Vinh là đô thị công thương; Tam Đảo, Sa Pa, Đà Lạt là đô thị du lịch.

Từ dầu thế kỷ 20, một số đô thị đã trở thành trung tâm kinh tế – xã hội của khu vực hoặc của cả nước. Từ năm 1918 đến năm 1921, Sài Gòn tăng 33.000 người, Chợ Lđn tăng 20.000 người, Hải Phòng tăng 40.000 người, Hà Nội tăng 10.000 người. Năm 1928 Hà Nội có 130.000 dân, Hải Phòng có 98.000 dân, Nam Đinh có 36.000 dân, Huế có 41.000 dân, Đà Nẵng có 7.000 dân, Sài Gòn có 125.000 dân, Chợ Lớn có 192.000 dân, Cân Thơ có 20.000 dân. Thống kê năm 1905 cho biết: Sài Gòn * Chợ Lớn tập trung 9 nhà máy xay, 1 xưởng đóng tàu và phân xưởng đóng sà lan, 2 nhà máy xà phòng; Hà Nội có 1 nhà máy sợi bông, 1 nhà máy điện, 1 nhà máy bột giấy, 1 nhà máy làm thuốc nổ, 1 nhà máy rượu; Hải Phòng có nhà máy sợi bông, nhà máy xi mãng, nhà máy sản xuất albumine, nhiều xưởng chế tạo vật liệu xây dựng; Nam Định có nhà máy sợi bông, nhà máy rượu.