Dung lượng của môi trường đô thị và mức độ thích nghi của nó

Dung lượng của môi trường đô thị và mức độ thích nghi của nó

Phát triển đô thị và đô thị hoá là một tất yếu của phát triển kinh tế – xã hội, và mọi sự phát triển của đô thị đều mang theo một hậu quả môi trường sinh thái nhất định. Nói chung, giứa phát triển đô thị và môi trường sinh thái đô thị tồn tại 4 loại quan hệ có tính tổ hợp: Phát triển nhịp nhàng mồi trường sinh thái và kinh tế; phát triển kinh tế, suy thoái môi trường sinh thái; phát triển môi trường sinh thái, suy thoái kinh tế; môi trường sinh thái và kinh tế đồng thời suy thoái. Trong hiện thực thường hay gặp loại quan hệ tổ hợp thứ hai, đặc biệt là trong đô thị các nước phát triển, dẫn đến chỗ làm cho người ta rút ra kết luận sai lệch “Phát triển trưđc, trị chữa sau”. Vì vậy, duy trì sự phát triển nhịp nhàng môi trường sinh thái đô thị với kinh tế đô thị trở thành một đề tài chủ yếu của kinh tế môi trường sinh thái đô thị.

Để kết hợp phát triển đô thị với bảo vệ môi trường sinh thái đô thị, phải tiến hành nghiên cứu dung lượng môi trường đô thị, trên cơ sở đó xác định mức độ thích nghi của nó.

Dung lượng môi trường theo nghĩa hẹp là lượng dung nạp cho phép của một đơn nguyên môi trường nào đó đối với chất ô nhiễm. Dung lượng môi trường theo nghĩa rộng

bao gồm dung lượng đất đai; các điều kiện môi trường tự nhiên về bảo đảm khối lượng nước ngọt, diện tích đất cây xanh và năng lực sạch hoá tự nhiên của ‘môi trường; các điều kiện nhân tạo về nhà ở, kết cấu hạ tầng … tóm lại, đó là năng lực phụ tải của môi trường tại một khu vực nhất định đối với hoạt động nhân loại. Dung lượng môi trường đô thị là khái niệm được dùng để chỉ mức độ cho phép của môi trường trong khu vực đô thị đối với qui mô phát triển đô thị và cường độ các loại hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người trong đô thị. Cường độ của các loại hoạt động của đô thị được đo lường bằng một đơn vị cụ thê nào đó, thí dụ cường độ sản xuất công nghiệp là triệu đồng giá trị sản lượng/km2, cường độ sử dụng nước sạch và thải nước bẩn là m3/km2, cường độ giao thông là vạn người/km2. Trên cơ sở xác lập mối quan hệ giữa cường độ các loại hoạt động của đô thị vởi dung lượng môi trường đô thị, có thể xác định được tính chất của chất lượng môi trường đô thị.

Dung lượng môi trường đô thị chịu sự chế ước của các điều kiện tự nhiên, vật chất, kỹ thuật, kinh tế, lịch sử, văn hoá của đô thị.

Điều kiện tự nhiên của đô thị là nhân tố rất cơ bản của dung lượng mồi trường đô thị. Nó bao gồm hiện trạng và đặc trưng của những điều kiện về địa chất, địa hình, thuỷ văn, khí hậu, trữ lượng quặng và động thực vật. Đây là những điều kiện chủ yếu để phát triển đô thị.

Cấu thành hiện hữu của các yếu tố vật chất của đô thị qui định mức độ cho phép đối với sự xây dựng đô thị và phát triển các hoạt động của con người trong đô thị. Đây là điều kiện hiện trạng của đô thị, bao gồm công

nghiệp, nhà ở, kết cấu hạ tàng, cung ứng của vùng ngoại ô. Trong đó, kết cấu hạ tầng về năng lượng, giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước là cơ sở của sản xuất vật chất xã hội và các hoạt động xã hội, là nhân tố có tác dụng chế ước đôi với dung lượng môi trường toàn bộ đô thị.

Thực lực kinh tế – kỹ thuật đô thị cũng qui định mức độ cho phép của qui mô phát triển đô thị. Điều kiện kinh tế – kỹ thuật vốn có của một đô thị càng hùng hậu, thì năng lực cải tạo môi trường vốn có của nó sẽ càng lớn, do vậy mà trình độ tự do tham gia các hoạt động xã hội của con người trong đô thị sẽ càng cao.

Ngoài ra, đô thị với tính cách là tải thể của văn hoá nhân loại, được hình thành trong nhứng điều kiện lịch sử nhất định, trình độ đã đạt tới của nó về văn hoá hứu thể và văn hoá vô hình sẽ có ảnh hưởng đáng kể đối với dung lượng môi trường đô thị. Nói chung, trình độ văn hoá của đô thị càng cao thì dung lượng môi trường đô thị sẽ càng lớn và ngược lại.

Dung lượng môi trường đô thị không phải là một đại lượng cố định không đổi mà có thê điều tiết. Trong trường hợp con người biết điều tiết thoả đáng các nhân tố ảnh hưởng đến dung lượng môi trường thì có thể gia tăng dung lượng môi trường, ngược lại, sẽ giảm thiểu dung lượng môi trường, thậm chí gây ra sự cố môi trường mang tính huỷ diệt.

Tính có thể điều tiết của dung lượng môi trường đô thị tạo ra mức độ tự do nhất định cho việc xây dựng đô thị và tiến hành các hoạt động đô thị. Nhưng mức độ tự

do này có một giới hạn nhất định, bởi lẽ trong một không gian nhất định và với một trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật nhất định, dung lượng môi trường đô thị có tính Ổn định tương đối. Vì vậy, xây dựng và phát triển đô thị cần ăn khớp với bảo vệ môi trường sinh thái đô thị, tức cường độ hoạt động đô thị cần thích ứng với dung lượng môi trường đô thị. Mức độ thích nghi của môi trường đô thị được dùng để chỉ tình trạng môi trường đô thị trong điều kiện có sự thống nhất tương đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả môi trường sinh thái.

Chúng ta có thể dùng hệ toạ độ để mô tả mối quan hệ giữa môi trường sinh thái đô thị và phát triển kinh tế đô thị theo hình sau:

Dung lượng của môi trường đô thị và mức độ thích nghi của nó 1

 

Trong hình, trục ox biểu thị mục tiêu kinh tế, trục OY biểu thị mục tiêu môi trường sinh thái. Miền 2 biểu thị tình hình có hiệu quả môi trường sinh thái mà không có hiệu quả kinh tế, miền 4 biểu thị tình hình có hiệu quả kinh tế mà không có hiệu quả môi trường sinh thái, hai tình hình này mặc dù không thể tránh khỏi trong hiện thực, nhưng việc đạt được mục tiêu này lấy sự tổn thất mục tiêu kia làm điều kiện. Miền 3 biểu thị tình hình vừa không có hiệu quả kinh tế, vừa không có hiệu quả môi trường sinh thái; trong hình điểm A (1.9) phiến diện nhấn mạnh hiệu quả môi trường sinh thái, điểm B (9.1) lại phiến diện nhấn mạnh hiệu quả kinh tế, đây đều không phải là mục tiêu theo đuổi lý tưởng của chúng ta. Vectơ OR là đoạn thẳng biểu thị xu thế thống nhất của hai mục tiêu, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường sinh thái luôn luôn xuất hiện quan hệ dương, chúng không gây tổn thất mà làm điều kiện cho nhau cùng phát triển. Vì vậy, các điểm trên vectơ OR cần được coi là mục tiêu lý tường của mức độ thích nghi môi trường đô thị.

Khi xác định cụ thể mục tiêu này, cần tiến hành phân tích sự chế ước của 4 loại nhân tố đã nêu ở trên, nhất là sự chế ước của điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện kinh tế – kỹ thuật. Vì vậy, việc xác định mức độ thích nghi của môi trường đô thị cần xuất phát từ điêu kiện cụ thể từng nơi từng lúc, dồng thời cần có sự thay đổi thích ứng với việc nâng cao trình độ phát triển đô thị. Nhưng nói chung, càn bảo đảm yêu cầu cơ bản của môi trường sinh thái đô thị để cho người dân đô thị có thể hít thở được không khí trong lành, uống được nước tinh khiết, ăn được thức ăn không bị ô nhiễm, có một môi trường yên tĩnh để công tác, học tập, sinh hoạt.

Để bảo đảm chất lượng môi trường sinh thái đô thị, phải thực hiện qui hoạch đô thị, quản lý môi trường và trị chứa tổng hợp các loại ô nhiễm môi trường, ơ đây, chủ yếu từ giác độ kinh tế môi trường để tiến hành thảo luận các vấn dề bố cục đô thị và chính sách kinh tế hđu quan nhằm bảo vệ ửiôi trường sinh thái đô thị.