Khái niệm về đô thị chủ yếu được xem xét theo tính chất đô thị và điểm dân cư đô thị.

Khái niệm về đô thị

Đô thị là một sự vật mà mọi người đều rất quen thuộc. Đô thị không chỉ với tài nguyên, yếu tố sản xuất và phục vụ của nó đã thu hút hàng ngàn, hàng vạn doanh nghiệp, mà còn với phương thức và điều kiện sinh hoạt của nó đã thu hút một số lượng lớn sức lao động và dân cư. Nhưng do đô thị có lịch sử lâu đời, nội dung phong phú và hình thức đa dạng, nên đối với khái niệm đô thị mà mọi người đều biết này, lại rất khó diễn tả bằng ngôn ngứ ngắn gọn dễ hiểu. Nhà địa lý người Pháp Phi-líp cho rằng: “Đô thị là một cảnh quan, một mảng không gian kinh tế, một loại mật độ dân số; cũng là một trung tâm sinh hoạt và trung tâm hoạt động; nói cụ thể hơn, cúng có thể là một loại không khí, một loại đặc trưng hoặc một linh hồn”.

Khái niệm về đô thị chủ yếu được xem xét theo tính chất đô thị và điểm dân cư đô thị.

Khái niệm về đô thị theo tính chất đô thị

Xét về tính chất, đô thị phải có ba điều kiện:

Một là, tính tập trung với mật độ cao. Đô thị không chỉ tụ hội một số lượng lớn dân số, vật chất và hoạt động, mà còn hạn chế trên một khu vực nhất định. Chính do quy mô và mật độ của dân số, vật chất và hoạt động đã làm cho đô thị khác biệt với nông thôn. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ảng-ghen chỉ rõ: “Thành thị là nơi tập trung dân cư, công cụ sản xuất, tư bản, hưởng thụ, nhu cầu, còn nông thôn lại chứng minh điều ngược lại, sự biệt lập và phân tán”[1].

Hai là, tính kinh tế. Đô thị trước hết là một thực thể kinh tế, hơn nữa là một thực thể tụ hội kinh tế phi nông nghiệp. Nói vậy có nghĩa, không chỉ đô thị là kết quả trực tiếp của phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, phát triển kinh tế là nhân tố có tính chất quyết định đối với phát triển đô thị, mà còn vì sự phân công và mối liên hệ giứa đô thị vđi nông thôn, tập trung biểu hiện sự khác biệt của cơ cấu kinh tế giứa đô thị với nông thôn cùng vđi quan hệ chế ước qua lại giữa chúng.

Ba là, tính xã hội. Đô thị với tính cách là một tải thể vật chất của quan hệ sản xuất nhất định, quyết định bởi hình thức quan hệ xá hội phức tạp của nó. Tính đa dạng của quan hệ xã hội, phá vỡ mối liên hệ huyết thống, tôn giáo giứa con người với con người, hình thành tập đoàn xã hội trong điều kiện thống nhất phương thức sinh hoạt và phương pháp tư duy.

Tiếp cận với các tính chất nói trên của đô thị, có thể rút ra định nghĩa: Đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thê xã hội và thực thể vật cht tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất đnh.

Khái niệm về đô thị theo điểm dân cư đô thị

Quyết định số 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chinh phủ) quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau đây:

Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.

Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như công nghiệp, thương nghiệp, cảng, đàu mối giao thông, du lịch, nghỉ ngơi.

Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hoặc nội thị với đơn vị hành chính là quận, phường và ngoầi thành hoặc ngoại thị vđi đơn vị hành chính là huyện và xã.

Thứ hai, quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người (vùng núi có thể thấp hơn).

Mỗi nước có quy định riêng về quy mô nhỏ nhất của dân cư đô thị. Đồng thời trong một nước quy mô dân số tối thiểu của đô thị các vùng lãnh thổ có đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau cũng khác nhau.

Thứ ba, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm ít nhất 60% tổng số lao động, là nơi có sản xuất hàng hoá và thương nghiệp, dịch vụ phát triển.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở điểm dân cư đô thị chỉ tính trong phạm vi nội thành, nội thị. Lao đông phi nông nghiệp bao gồm lao động công nghiệp và thủ công nghiệp, lao động xây dựng cơ bản, lao động giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, lao động thương nghiệp, dịch vụ, du lịch, lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, giáo dục, xã hội, y tế, nghiên cứu khoa học và nhứng lao động khác ngoài lao dộng trực tiếp làm nông nghiệp.

Thứ tư, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị.

Kết cấu hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh trình độ phát triển và tiện nghi sinh hoạt của dân cư đô thị  theo lối sống đô thị. Kết cấu hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước, cống rãnh, nãng lượng, thông tin, vệ sinh môi trường và hạ tàng xã hội  như nhà tiện nghi, công trình phục vụ công cộng văn  hoá, xã hội, y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học, cây xanh, giải trí … Kết cấu hạ tầng đô thị được xác định dựa trên chỉ tiêu đạt được mức độ tối thiểu của từng đô thị. Thí dụ: Mật độ đường phố (km / km2), chỉ tiêu cấp nưđc (lít / người – ngày), chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt (kWh / người), chỉ tiêu nhà ở (m2/ người) ….

Thứ năm, mật độ dân cư được xác đinh tuỳ theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng.

Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị, nó được xác định trên cơ sở qui mô dân số nội thành, nội thị trên diện tích đất đai nội thành, nội thị (người / km2 hoặc người / ha).

Căn cứ vào năm chỉ tiêu nêu trên, có thể nêu lên một định nghĩa khác: Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện.