Loại hình đô thị hoá

Loại hình đô thị hoá

Tiêu chuẩn cơ bản nhất để phân biệt loại hình đô thị hoá là sự biến đổi bố cục không gian của quan hệ thành thị nông thôn và phương thức tập trung dân số, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Căn cứ vào 2 chỉ tiêu trên, đô thị hoá có hai loại hình cơ bản:

Loại hình thứ nhất: Đô thị hoá loại hình tập trung. Thực chất đó là quá trình dân số nông thôn và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp tụ hội lên đô thị, từ khu vực nông thôn di chuyển vào khu vực đô thị. Loại hình đô thị hoá này thịnh hành giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, trong quá trình thống kê nó biểu hiện thành sự phát triển của hệ thống đô thị nhỏ, sự nâng cao tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số và sự gia tăng mật độ dân cư đô thị.

Loại hình thứ hai: Đô thị hoá loại hình phân tán. Nó là sự phát triển nhanh chóng của khu vực ngoại ô và khu vực phi đô thị xung quanh đô thị lớn. Mà sự phồn vinh Gủàcác khu vực này là do có sự vươn ra của kết cấu giao thông đối ngoại đô thị, sự mở rộng ra bên ngoài đô thị công nghiệp, nhà ở hoặc các đơn vị vãn hoá, giáo dục, y tế. Vì vậy, nhân tố cơ bản của đô thị hoá loại hình phân tán là sự khuếch tán công năng của đô thị ra bên ngoài. Dân sô’ và hoạt động kinh tế đô thị một khi tập trung đến mức độ cao, kết quả là môi trường, giao thông, nhà ở, doanh nghiệp, cơ quan của khu vực trung tâm đô thị tương đối báo hoà, chỉ cần lợi ích chuyển ra bên ngoài của các ngành chức năng này đủ để bù đắp tổn thất và chi phí chuyển ra bên ngoài, họ sẽ di chuyển một số lượng lớn ra ngoại ô, do vậy mà lôi kéo khu vực nông thôn xung quanh đô thị dần dần đô thị hoá.

Từ đô thị hoá loại hình tập trung đến đô thị hoá loại hình phàn tán, tập trung biểu hiện 2 giai đoạn phát triển đô thị hoá của các quốc gia phát triển hiện đại. ơ thời kỳ đang lên của chủ nghĩa tư bản ở thế kỷ XIX, đi đôi với sự phát triển của công nghiệp hoá, các đô thị mới lần lượt mọc lên, dân số nông thôn không ngừng tập trung lên đô thị, tỷ trọng dân sô’ đô thị trong tổng số dân số nâng cao nhanh chóng. Khi phân tích tình hình nước Nga, Lếnin vạch rõ: “Con số thành thị có dân cư từ 5 vạn ngừời trở lên, từ năm 1863 đến năm 1897 tăng lên trên 2 lần (13 cái lên 44 cái). Năm 1863, thị dân trong tổng số chỉ có 27% (170 vạn trong 610 vạn), tập trung các trung tâm lớn này; năm 1885 thì ước có 41% (410 vạn trong 990 vạn), còn năm 1897 thì đã có trên một nửa, ước khoảng 53%(640 vạn trong 1200 vạn). Vì vậy, niên đại 60 tính chất của dân số thành thị chủ yếu quyết định bởi dân số của các đô thị không lớn lắm, còn niên đại 90 của thế kỷ XIX, các thành thị đã giành được ưu thế hoàn toàn. Vì vậy, sự tăng trưởng to lớn của các trung tâm công nghiệp lớn và sự hình thành của nhiều trung tâm mới, là một đặc điểm rất rõ ràng của thời kỳ cải cách”.

Cho đến đàu thế kỷ XX, đặc biệt trưđc đại chiến thế giới lần thứ hai, đô thị hoá loại hình tập trung vẫn chiếm địa vị chủ đạo trong đô thị hoá của các nước phát triển. Sau chiến tranh, do các nước Phương Tây đặc biệt coi trọng công tác qui hoạch hệ thống dô thị, coi trọng cải thiện giao thông trong nội bộ đô thị và giữa các đô thị, tăng cường xây dựng kinh tế vùng, do đó mà giảm bớt được nhiều sự hạn chế về cự ly không gian của thị trường, sản xuất và cư trú, kinh tế và dân số đô thị lđn mạnh nhanh chóng trong phạm vi khu vực rộng lớn. Mặt khác sự tập trung cao độ của khu vực đô thị dẫn đến giá đất tăng lên nhanh chóng, mật độ dân số, mật độ kinh tế và mật độ kiến trúc đêu tỏ ra quá lớn, cùng với giao thông chen chúc, môi trường xấu đi, do đó làm cho dân số và đơn vị kinh tế di chuyển vđi tốc độ lđn ra khu vực ngoại ô, dẫn đến khuyếch tán công năng của đô thị.