Mô hình tăng trưởng kinh tế đô thị

mô hình tăng trưởng kinh tế đô thị

Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách thức diễn đạt quan điểm cơ bản nhất của sự tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối quan hệ giứa chúng. Nói một cách khác, đó là phương thức mô tả những đặc trưng cơ bản về sự vận động của nền kinh tế trong mối liên hệ nhân quả giữa các yếu tố chủ yếu trong quá trình tăng trưởng.

Các nhà kinh tế học đã có những quan điểm khác nhau về mô hình tăng trưởng kinh tế nói chung, trong đó có mô hình tăng trưởng kinh tế đô thị.

Học thuyết “Giá trị lao động” trong cuốn “Của cải của các nước” của Adam Smith cho rằng: Lao động là nguồn gốc cơ bản tạo ra mọi của cải cho đất nước. David Ricardo với tính cách là nhà kinh tế học cổ điển xuất sắc nhất, trong tác phẩm nổi tiếng “Các nguyên tắc của chính trị kinh tế học và thuế khoá” cho rằng: Các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giđi hạn của sự tăng trưởng.

Các Mác là một nhà kinh tế học xuất sắc nhất, trong tác Dhẩm nổi tiếng nhất của mình “Tư bản” đã xác định các yếu tố tác động đến quá trình sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật. Ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư, để tăng giá trị thặng dư nhà tư bản tìm mọi cách để tăng thời gian làm việc và giảm tiền công của công nhân trong giđi hạn cho phép, đặc biệt quan tâm đổi mới kỹ thuật sản xuất nhằm rút ngắn thời gian lao động tất yếu cho người công nhân và tương ứng kéo dài thời gian lao động thặng dư cho nhà tư bản.

Sự ra đời của trường phái các nhà kinh tế tân cổ điển được đánh dấu bằng việc xuất bản cuốn “Những nguyên lý của kinh tế học” của Alfred Marshall.

Các nhà kinh tế học tân cổ điển bác bỏ quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng sản xuất trong một tình huống nhất định đòi hỏi phải có tỷ lệ nhất định về lao dộng và vốn, họ quan niệm rằng vốn có thể thay thế được nhân công và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau, từ đó đưa ra khái niệm “Phát triển kinh tế theo chiều sâu”, tức gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, khác vđi “Phát triển kinh tế theo chiều rộng” có nghĩa là sự gia tăng số lượng lao động. Họ còn cho rằng đổi mới kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Các nhà kinh tế học tân cổ điển dùng hàm sản xuất để giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế. Hàm này phân tích mối quan hệ giữa sự gia tăng của đàu ra với sự gia tăng của các yếu tố đàu vào.

Y = f (K, L, R, T)

Trong đó: Y: đầu ra (.thí dụ GDP);

K: vốn sản xuất;

L: số lượng lao động;

R: tài nguyên thiên nhiên;

T: kỹ thuật, công nghệ;

Một dạng của cách phân tích này là hàm Cobb – Douglas có dạng:

Y = T . K* . ứ . Ry

a,/J, y là các SỐ luỹ thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố dầu vào: a+ p + y —1

Sau khi biến đổi Cobb-Douglas thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số:

g = t + aK + ySL + yR

Trong đó:

g: tốc độ tăng trưởng của GDP

K, L, R: tốc độ tăng trưởng của các yếu tố dầu vào

Việc xuất bản tác phẩm của J. Maynard Keynes ” Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đánh dấu sự ra đời của một học thuyết kinh tế mới. Keynes cho rằng có thể đạt tđi và duy trì sự cân đối ờ mức độ sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm dầy đủ cho mọi người, tại nơi mà nhứng khoản chi tiêu mới cho dầu tư được hình thành từ các khoản tiết kiệm đang được đưa vào hệ thống. Ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng, cho rằng dầu tư có tác dụng quyết định đến quy mô việc làm. Để kích thích dầu tư phải tăng lợi nhuận, giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông, phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định.

Dụa vào tư tưởng của Keynes, hai nhà kinh tế học Roy

Harrod người Anh và Elsay Domar người Mỹ đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng và thất nghiệp ờ các nước phát triển, coi đầu vào của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó.

Gọi đầu vào là Y, tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra là g, ta có:
Gọi s là tỷ lệ tíchluỹ trong GDP và mức tíchluỹ làs,tacó:

Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư cho nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn luôn bằng tiết kiệm ( St=It ), ta có: 

Đầu tư là cơ sở tạo ra vốn sản xuất , do vậy I>r=AK>r+n. Gọi K là tỷ số gia tăng giữa vốn và đầu ra, ta có:

Ở đây, g là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn – đầu ra)

Hệ số này nói lên rằng: vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm của nhân dân là nguồn gốc của dầu tư, nó phản ánh trình độ công nghệ của sản xuất và là thước đo năng lực sản xuất.

Mô hình Harrod – Domar chỉ ra rằng: tăng trưởng là kết quả của sự tác động qua lại giứa tiết kiệm và đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự tăng trưởng kinh tế. Chính đâu tư làm phát sinh lợi nhuận và tăng năng lực sản xuất của nến kinh tế.

Trong khi dùng hàm sản xuất để nghiên cứu và dự báo sự tăng trưởng kinh tế của đô thị, càn lưu ý rằng: sự tăng trưởng của nền kinh tế đô thị được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó vốn là yếu tố cơ bản song không phải là tất cả. Như đã biết, hàm sản xuất biểu thị sản lượng tối đa có thể được sản xuất ra khi sử dụng những lượng dầu vào nhất định trong trình độ công nghệ hiện có, theo đẳng thức:

Sản lượng = f (vốn, lao đông, tài nguyên thiên nhiên, kỹ thuật công nghệ) (1)

Theo đẳng thức (1) ta rất dễ nhận ra: Đối với một đồ thị nào đó, với một số vốn nhất định, sẽ có thể sản xuất một sản lượng nhiều hơn nếu như đô thị đó nằm trong khu vực có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đội ngũ đông đảo người lao động có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và sản xuất bằng máy móc, công nghệ tiên tiến.