Môi trường sinh thái đô thị và sự cố môi trường sinh thái đô thị (P1)

sinh thái“>môi trường sinh thái đô thịsự cố môi trường sinh thái đô thị

a. Môi truờng sinh thái tự nhiên và môi trường sinh thái đô thị

Môi trường sinh thái tự nhiên có ba công năng: Một là cung cấp cho hoạt động nhân loại các tài nguyên vật chất như ánh sáng mặt trời, không khí, nước, đất và một khôi lượng lớn là tài nguyên sinh vật, khoáng sản. Hai là, sạch hoá các chất phế thải trong hoạt động kinh tế của nhân loại, cuối cùng đêu cần vứt bỏ vào môi trường, thông qua các quá trình tự nhiên khuyếch tán, tích tồn hoặc đồng hoá, biến thành các chất không có hại, thậm chí có ích cho loài người. Ba là, cung cấp sự thư thái, khoan khoái cho con người, điều kiện tự nhiên trong lành- gió mát trăng thanh, sơn thuỷ hứu tình – trở thành khu du lịch lý tưởng của con người, là tài nguyên vật chất để đáp ứng nhu cầu tinh thần và nâng cao phúc lợi xã

hội của nhân loại. Như vậy, môi trường sinh thái tự nhiên là cơ sở và điều kiện sinh tồn và phát triển của nhân loại, cũng là cơ sở và điều kiện phát triển kinh tế – xã hội. Hoạt động của con người không ngừng ảnh hưởng và cải biến điều kiện môi trường, làm cho nó phù hợp với nhu cầu sinh tồn của mình. Nhân loại trong quá trình lịch sử lâu dài lợi dụng và cải tạo môi trường tự nhiên bao quanh, không ngừng sáng tạo văn minh vật chất và cải tạo mình. Khoa học hiện đại chứng tỏ rằng nhân loại và môi trường không trong trạng thái hài hoà vĩnh cửu.

Trước cách mạng công nghiệp, quan hệ giữa người và môi trường tương đối hài hoà. Trong xã hội lấy nông nghiệp và thủ công nghiệp làm chủ, số lượng sinh vật và phi sinh vật lấy của giới tự nhiên không nhiều, phương thức sản xuất và qui mô sản xuất (bao gồm qui mô dân số) cũng chưa vượt quá giới hạn dung lượng mà giới tự nhiên cho phép, sự phá huỷ cân bằng sinh thái của giới tự nhiên còn chưa thành hiện tượng phổ biến. Song song với sự phát triển của công nghiệp hiện đại, khả năng chinh phục tự nhiên của nhân loại tăng lên mạnh mẽ. Điều này một mặt, thúc đẩy sự phát triển nhanh như vũ bão sản xuất xã hội, mặt khác gia tăng khối lượng lớn vật chất lấy ra từ trong giới tự nhiên và khối   lượng lớn chất phế thải vứt bỏ vào giứi tự nhiên. Đại bộ phận chất phế  thải vứt bỏ đêu không thông qua việc tiến hành thu hồi, lợi dụng lại và xử lý cần thiết, mà trực tiếp ném vào môi trường, gây ra ô nhiễm môi trường. Khai thác, lợi dụng quá mức giới tự nhiên và ô nhiễm của của khối lượng lớn chất phế thải, vượt ra ngoài giđi hạn mà cơ chế tự điều tiết của hệ thống sinh thái có thê chịu đựng, đá gây ra tổn thất nghiêm trọng cho kết cấu và công năng của hệ thống sinh thái, làm cho môi trường mà trong đó con người gây ra càng xấu đi.

Sự khác biệt quan trọng giứa môi trường sinh thái đô thị với môi trường sinh thái tự nhiên, chủ yếu biểu hiện ở tính xã hội, tính lệ thuộc và tính dễ biến đổi.

Trước hết, môi trường sinh thái đô thị có tính xã hội. Hệ thống sinh thái đô thị chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ xã hội, điều kiện kinh tế và trình độ khoa học, kỹ thuật, văn hoá của nhân loại. Chủ thể của hệ thống sinh thái đô thị là con người, các điểm dân cư đô thị không chỉ sống dựa vào môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế – xã hội đô thị, mà còn căn cứ vào nhận thức đối với qui luật tự nhiên và qui luật kinh tế, theo đặc điểm tập trung mật độ dân số và tập trung kinh tế , tạo lập môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế – xã hội phù hợp với nhu cầu phát triển của mình.

Sau nửa, môi trường sinh thái đô thị có tính lệ thuộc. Thay cũ đổi mới của hệ thống sinh thái tự nhiên, năng lượng cung cấp để duy trì sự hoạt động của hệ thống không thể hoàn toàn dựa vào mặt trời, mà phải chuyển tải vào một nguồn năng lượng lớn từ ngoài hệ thống, đông thời, còn phải chuyên chở vào hệ thống một khối lượng lớn ngu>ên vật liệu cần thiết cho sản xuất, đời sống và các hoạt động xã hội của con người, chuyên chở ra ngoài hệ thống các sản phẩm, bán thành phẩm và phế phẩm. Điều này dẫn đến sự hình thành một hệ thống tuần hoàn nhân tạo đặc biệt. Khi các chất phế thải của sản xuất và đời sống tạo ra vượt quá khả năng tự điều tiết của môi trường đô thị, không chỉ gây ra ô nhiễm môi trường đô thị, mà còn gây ra ô nhiễm môi trường xung quanh đô thị.

Cuối cùng, môi trường sinh thái đô thị có tính dễ biến đổi. Hệ thống sinh thái tự nhiên có chủng loại sinh vật đơn điệu, kết cấu sinh thái giản đơn, vì vậy mà không ổn định như hệ thống sinh thái tự nhiên, năng lực tự điều tiết kém, rất dễ chịu sự ảnh hưởng của nhân tố môi trường hoặc nhân tố nhân tạo mà phát sinh biến đổi. Cân bằng của hệ thống sinh thái đô thị rất dễ bị phá hoại, nhưng cũng dễ xác lập sự cân đối mới. Con người có thế thông qua con đường quản lý kinh doanh có khoa học, sử dụng biện pháp thoả đáng để điều tiết và kiểm soát hệ thống sinh thái đô thị.

Nhân tố sinh vật, nhân tố phi sinh vật và nhân tố xã hội trong hệ thống sinh thái đô thị đêu là những nhân tố môi trường của hoạt động nhân loại, chúng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động nhân loại, mà còn trên mức độ lớn chịu sự chi phối của nhân loại. Trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị, con người cần tuân thủ các qui luật tự nhiên và qui luật kinh tế – xã hội khách quan, điều tiết và kiểm soát kết cấu và công năng của hệ thống sinh thái đô thị nhằm xây dựng môi trường sinh thái đô thị xanh, sạch, đẹp.