Mức độ đô thị hoá

mức độ đô thị hoá

Đô thị hoá là một hiện tượng kinh tế – xã hội rất phức tạp, việc đánh giá mức độ của nó gặp phải khó khăn từ 2 mặt: Một là tính vận động của đô thị hoá, tức đô thị hoá là một quá trình, phương pháp đánh giá mức độ của nó cần sử dụng tiêu chuẩn thống nhất phản ánh những đặc trưng khác nhau của các thời kỳ đô thị hoá khác nhau. Mặt khác là tính đa dạng của nội hàm đô thị hoá bao gồm sự biến đổi của tỷ trọng dân số, sự biến đổi của quan hệ thành thị nông thôn và sự biến đổi phương thức sinh hoạt của dân cư, phương pháp đánh giá mức độ cần sử dụng tiêu chuẩn đơn giản để phản ánh nội dụng phức tạp. Hiện nay, phương pháp đánh giá mức độ đô thị hoá chủ yếu có 2 nhóm lớn:

a. Phương pháp chỉ số chủ yếu

Tức thông qua mấy chỉ tiêu có ý nghĩa bản chất, có tính tượng trưng mà thuận tiện cho việc thống kê phân tích để phản ánh và mô tả mức độ đô thị hoá. Đô thị là không gian đặc biệt, sự tụ hội dân số và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp trên không gian đó là đặc trưng quan trọng nhất của đô thị. Vì vậy, các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh mức độ đô thị hoá là:

–   Chỉ tiêu dân số – sức lao động. Chủ yếu là tổng qui mô dân số đô thị và tỷ trọng trong tổng số dân số của khu vực, mức độ tựu nghiệp và cơ cấu tựu nghiệp của ngành sản xuất phi nồng nghiệp. Cái trước là dân số thường trú của đô thị phản ánh tổng mức đô thị hoá; cái sau là sự phân bố tựu nghiệp các ngành sản xuất khác nhau, là bức tranh phản chiếu trình độ công nghiệp và kết cấu ngành sản xuất của đô thị, do đó mà phản ánh chất lượng của đô thị hoá. Đô thị vừa là tải thể hoạt động của con người, vừa là không gian sinh hoạt cư trú của con người. Mức độ và sự phát triển của đô thị hoá có quan hệ chặt chẽ với sự biến động của dân sô và tựu nghiệp đô thị.

–   Chỉ tiêu sử dụng đất đai. Chỉ tiêu này từ tính chất đất đai và cơ cấu phân bổ khu vực để phản ánh mức độ đô thị hoá. Đất đô thị phân thành đất dùng cho công nghiệp, đất dùng cho kho bãi, đất dùng cho giao thông vận tải đối ngoại, đất dùng cho cư trú sinh hoạt, đất dùng cho công trình công cộng thị chính, đất dùng cho văn hoá giáo dục khoa học, đất dùng cho phong cảnh du lịch, đất dùng đặc biệt và đất dùng cho nông lâm nghiệp trong đô thị. Theo phạm vi phân bổ đất đai đô thị, hình thành khu công nghiệp, khu thương nghiệp, khu dân cư, khu du lịch, khu sinh hoạt văn hoá. Các quốc gia đều có những qui định khác nhau đối với chỉ tiêu sử dụng đất đai đô thị, thông qua việc so sánh hiện trạng sử dụng đất đai với chỉ tiêu sử dụng đất đai, cũng có thể phản ánh mức độ và chất lượng của đô thị hoá.

– Chỉ tiêu cơ cấu sản xuất – lao động. Một trong nhứng hệ quả cơ bản của quá trình đô thị hoá là sự biến đổi cơ cấu các ngành sản xuất và theo đó là sự biến đổi cơ cấu lao động – xã hội. Nên sản xuất và lao động xã hội được phân ra thành 3 khu vực cơ bản: Nông nghiệp theo nghĩa rộng, công nghiệp theo nghĩa rộng và dịch vụ theo nghĩa rộng. Nói chung, giá trị sản lượng và lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, giảm dần các giai đoạn sau và chiếm tỷ trọng thấp nhất ở thời kỳ hậu công nghiệp; giá trị sản lượng và lao động dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp nhất giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp, tăng dần lên trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá và cuối cùng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thời kỳ hậu công nghiệp. Như vậy, dựa trên cơ sở phân tích sự chuyển dịch của cơ cấu sản xuất – lao động, ta có thể xác định được mức độ đô thị hoá của một quốc gia hoặc một khu vực tại một thời kỳ lịch sử nhất định.

b. Phương pháp chỉ tiêu thích hợp

Đây là phương pháp mà hiện nay Nhật Bản đang sử dụng, thông qua việc phân tích tổng hợp các chỉ tiêu có liên quan đến đô thị hoá để khảo sát mức độ đô thị hoá. Bao gồm hai hệ thống chỉ tiêu sau đây:

–        Hệ số trưởng thành của đô thị – gồm có 10 chỉ tiêu:

•      Tổng dân số của khu vực;

•      Tổng mức chi trong năm tài chính của địa phương;

•      Số người làm ngành chế tạo;

•      Số người làm ngành thương nghiệp;

•      Tổng giá trị sản lượng công nghiệp;

•       Tổng mức thương nghiệp bán buôn;

•       Tổng mức thương nghiệp bán lẻ;

•      Tổng diện tích xây dựng nhà ;

•      Tỷ lệ dự trứ;

•      Tỷ lệ phổ cập của điện thoại.

–        Kích cỡ đô thị – gồm 5 chỉ tiêu:

•      Qui mô đô thị: diện tích, tổng số dân số;

•      Vị trí khu vực đô thị: cự ly thời gian cách trung tâm đô thị;

•      Hoạt động kinh tế đô thị: thu nhập tài chính năm, tỷ suất hàng hoá công nghiệp, tỷ suất tiêu thụ hàng hoá, tỷ lệ diện tích đất canh tác, tỷ lệ phổ cập điện thoại;

•      Tựu nghiệp đô thị: số người tựu nghiệp của khu vực thứ ba, tỷ lệ số người quản lý, tỷ lệ số người làm thuê;

•      Tăng trưởng dân số đô thị: tỷ lệ tăng trưởng dân số, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ số người tựu nghiệp.

Đánh giá mức độ đô thị hoá là một vấn đề còn nhiều ý kiến tranh cãi. Các nhà địa lý học đô thị Mỹ căn cứ vào lịch trình phát triển đô thị hoá .của các nước Âu Mỹ, đem chia đô thị hoá ra làm 3 giai đoạn: giai đoạn khởi đầu, tỷ trọng của dân số đô thị là dưới 25%; giai đoạn tăng tốc, tỷ trọng của dân số đô thị từ 25 – 50 – 70%; ở giai đoạn hoàn thành, tỷ trọng của dân số đô thị đạt trên 70%.