Nhà ở tại các đô thị nuớc ta thời kỳ bao cấp (1954 – 1985)

Nhà ở tại các đô thị nuớc ta thời kỳ bao cấp (19541985)

Trong suốt thời kỳ này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về nhà ở. Một chương trình quốc gia về nhà nhằm mục tiêu xây dựng và cung cấp nhà ở cho nhứng người làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước đóng tại đô thị đã được đề ra. Bộ Xây dựng đã được giao trách nhiệm điều hành và thực hiện chương trình này thông qua các công ty, xí nghiệp xây dựng thuộc Bộ quản 

Trong 10 năm đầu sau khi hoà bình được lập lại miền Bắc (1954 – 1964), việc xây dựng các khu nhà tại các đô thị được đưa vào kế hoạch nhà nước và sau đó phân phối cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước theo hệ thống tiêu chuẩn phức tạp. Quá trình phân phối nhà ở cho các đối tượng có đủ tiêu chuẩn thường kéo dài trung bình khoảng 27 tháng, nhiều cơ quan, xí nghiệp nhà nước dã căn cứ vào nhu cầu nhà và khả năng của đơn vị để đề ra chương trình nhà riêng của mình.

Chính sách nhà ở của giai đoạn này được ban hành và thực thi trong điều kiện nhu cầu về nhà của dân cư đô thị còn thấp. Năm 1954, diện tích nhà bình quân đầu người ở Hà Nội là 6,60 m2. Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, có một số lượng lớn dân cư đô thị miền Bắc di cư vào miền Nam hoặc trở về các vùng thôn quê làm ãn. Nhà nước tiếp thu được một cách tương đối nguyên vẹn các đô thị hành chính từ tay chế độ thực dân Pháp. Chính sách nhà của Nhà nước lúc này tập trung vào xây dựng nhà ở để cấp cho những người làm công ăn lương nhà nước, ít chủ ý việc xây đựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật kèm theo.

Tất cả các chính sách có liên quan đến nhà ở đô thị trong giai đoạn này: vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chế độ phân phối, tiền thuê nhà … đã tạo ra sự không công bằng giữa các ngành, các cơ quan xí nghiệp và giứa các cán bộ công nhân viên chức nhà nước. Chúng không đáp ứng được nhu cầu Vê nhà của dân cư đô thị và tạo ra nhiều vấn đề xã hội khó giải quyết.

Trong nhứng năm 1965 – 1975, Nhà nước đã dùng nguồn vốn ngân sách quốc gia để xây dựng nhứng khu chung cư từ 2 đến 5 tầng theo mô hình của các khu tập thể của Liên Xô trưđc đó. Tinh thần tập thể và lý tưởng bình đẳng của chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở cấu trúc của các toà nhà, các căn hộ có diện tích bằng nhau, mỗi tầng nhà có khu phụ dùng chung, mỗi tiểu khu nhà có nhà ăn tập thể. Lúc này khái niệm “căn hộ khép kín” chưa hề có trong đầu óc nhứng người dân đô thị mà trước đó không lâu họ là nhứng nông dân. Vì vậy, lối sống cộng dồng làng xã nông thôn được bảo lưu và phát triển trong các khu chung cư đô thị.

Trong giai đoạn này, Nhà nước mđi chỉ chú ý đến việc xây dựng nhà mà chưa tiến hành quy hoạch không gian đô thị một cách chỉnh thể. Việc xây dựng các khu nhà đô thị chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu cư trú của cán bộ công nhân viên chức nhà nước, chưa tính đến nhu cầu nhà của các tầng lớp dân cư đô thị khác. Cũng trong giai đoạn này, tính bao cấp trong lĩnh vực nhà cho nhứng người làm công ăn lương nhà nưđc vẫn được duy trì, biểu hiện việc cấp nhà không mất tiền và trong khoản tiền thuê nhà rất thấp. Điều này làm cho quỹ nhà ở của Nhà nước tại các đô thị xuống cấp nhanh chổng và gây ra nhiều lãng phí, thiệt hại.

Trong 10 năm tiếp theo (1975 – 1985), một chương trình quốc gia về nhà ở, chủ yếu cho các đô thị, đã được Bộ Xây dựng phôi hợp với các viện nghiên cứu triển khai trên cơ sở. chính sách nhà ở và thực trạng nhà ở tại các đô thị nưđc ta lúc đó. Nhứng chính sách nhà ở đô thị trong giai đoạn này vẫn còn mang nặng tư tưởng bao cấp, trong đó tư tưởng phân phối bình quân chủ nghĩa thường giữ vai trò chủ đạo trong việc sử dụng các giải pháp kinh tế kỹ thuật có tính áp đặt chủ quan để tạo ra các khu chung cư nhiều tầng, kiểu dáng kiến trúc đơn điệu, chất lượng thấp, kém tiện nghi.

Tuy nhiên, trong những năm 1980, trên cơ sở đúc kết kinh nghiêm của 20 nãm trước đó, đã xuất hiện một số khu chung cư được cải tiến với các căn hộ khép kín, thông thoáng, được trang bị tiện nghi có chất lượng cao hơn và tương đối dồng bộ, góp phần cải thiện bộ mặt đô thị. Việc mua bán, cơi nới, sửa chữa và xây dựng nhà ở đô thị theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” được Nhà nước bắt đầu quan tâm và có chỉnh sách nới rộng từng bước.

Nhìn chung, trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước muốn đóng vai trò là người trực tiếp sản xuất và phân phối nhà cho những đối tượng được xác định theo tiêu chuán, chính sách nghiêm ngặt. Nhưng trên thực tế, ý tưởng tốt đẹp này đã không được thực hiện một cách trọn vẹn. Bởi lẽ, một mặt do có sự mất cân đô’i lớn giứa cung và cầu về nhà đô thị, nên khó có thể thực hiện phân phối công bằng nhà ở cho những người làm công ăn lương nhà nước. Mặt khác, việc cung cấp nhà theo lối bao cấp gây cho người dân đô thị tư tưởng thụ động trông chờ vào Nhà nước, mà nguồn ngân sách nhà  nước thì rất eo hẹp nên diễn ra hết sức chậm chạp, khi đất nướ.c lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng thì hầu như bị đình chỉ, cho đến cuối những năm 80 và đầu những năm 90, chỉ có 30% cán bộ công nhân viên chức nhà nước được cấp nhà, 70% còn lại vẫn phải tự lo lấy nhà hoặc phải sống trong nhứng điều kiện cực kỳ chật trội, mất vệ sinh.