Nhà ở tại các đô thị nước ta thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)

Nhà ở tại các đô thị nước ta thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)

Từ năm 1986, thực hiện chính sách đổi mới do Đại hội VI đê ra, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghiã, lĩnh vực nhà đô thị nước ta cũng bắt đầu có chuyên biến. Nhà nước đã tuyên bố xoá bỏ chế độ cung cấp nhà ở, cho phép và khuyến khích dân cư đô thị tự lo liệu lấy nhà cho mình, tạo điều kiện cho họ tự xây dựng nhà ờ. Theo điều tra thí điểm của Bộ Xây dựng năm 1989, hầu hết 29 tỉnh, thành phố trong các năm 1984 -1989 có 80% nhà được xây dựng bằng tiền vốn của nhân dân tự bỏ ra. Năm 1990 có 1/3 khối lượng nhà tại các đô thị được xây dựng bằng tiền vốn của nhân dân. Năm 1992 vốn đầu tư xây dựng nha ở của các cơ quan, xí nghiệp và nhân dân bằng 2 lần vốn của Nhà nước. Sự “bùng nổ” xây dựng nhà ở đô thị chủ yếu dựa trên cở sở các hộ gia đình, diễn ra ở khắp mọi nơi – nhà ở mọc lên như nấm, người dân đô thị cố gắng tự cải thiện điều kiện ăn của mình, nhờ đó mà bộ mặt các đô thị nước ta được khang trang đẹp mắt hơn trước.

Từ năm 1992, đã triển khai việc chuyển quĩ nhà do Nhà nước quản lý sang hình thức kinh doanh bằng cách đưa tiền nhà vào lương, tăng giá cho thuê nhà của Nhà nước lên 45 lần so vđi giá cũ, cho phép bán các loại nhà cấp 3, cấp 4 cho người đang ở. Đến năm 1994 lại cho phép bán tất cả các loại nhà cho người đang thuê.

Đầu năm 1995, diện tích nhà của cả nước vào khoảng 500 triệu m2 sử dụng, trong đó tại các đô thị có khoảng 81 triệu m2. Nhà thuộc sở hữu nhà nước có khoảng 26 triệu m2, phần lớn được xây dựng tại các đô thị, chiếm 52% nhà ở toàn quốc và 32,5% nhà đô thị.

Diên tích nhà ở bình quân đầu người trong cả nước là 7m2/ người trong đó ở nông thôn 7,5 m2/ người, ở đô thị 5,’8 m2/ người.

Cả nước có 56 đô thị từ 30.000 dân trở lên và trên 400 thị trấn nhỏ, nhưng quá nửa số nhà ở đô thị tập trung 2 thành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 44%, diện tích bình quân đầu người đạt 7,3 m2; thành phố Hà Nội chiếm 8%, diện tích bình quân đầu người chỉ là 5,7m2.

Hâu hết nhà đô thị được làm bằng vật liệu bền lâu, song cũng còn nhiều nhà làm tạm bợ bằng các vật liệu dễ cháy. Quá nửa số nhà ở đô thị có tuổi thọ 50 năm, cần được tu sửa và nâng cấp. Trong đó có một số khá lớn ngôi -nhà nguy hiểm, đã đến lúc phải phá đi xây lại.

Nhiều hộ sống chen chúc trong một nhà, thiếu các tiện nghi phục vụ riêng biệt. Do quá chật trội mà phần lớn các căn hộ đô thị đều phải cơi nđi lộn xộn, vi phạm qui hoạch đô thị và làm xấu kiến trúc công trình. Việc lấn chiếm đất công để xây nhà ở trái phép xảy ra khắp nơi. thêm vào đó, tình trạng thấp kém của kết cầu hạ tầng kỹ thuật đô thị càng làm cho cuộc sống của người dân thêm chật vật về nạn thiếu nước sinh hoạt, thiếu cống rãnh, thiếu đèn đường, thiếu cây xanh. Tình hình tồi tệ của nhà đô thị đã tạo ra những căng thẳng xá hội, làm gia tăng các vụ tranh chấp kiện cáo về nhà đất, chiếm trên 70% số vụ khiếu nại mà chính quyền các đô thị phải xử lý. Việc giải toả các nhà xây dựng trên đất lấn chiếm hoặc vi phạm lộ giđi cũng gặp nhiều khó khăn.

Quỹ nhà ở do Nhà nước quản lý tại các đô thị được phân phối theo tiêu chuẩn cho những người làm công ăn lương nhà nước sử dụng với giá thuê nhà không đáng kể. Do ngành nhà đất không đủ tiền để duy tu, bảo dưỡng nên quỹ nhà này bị xuông cấp nghiêm trọng. Hơn nữa, việc quản lý lại lỏng lẻo, nhiều căn hộ đã chuyển đổi sang người sử dụng khác, chuyển đổi mục đích sử dụng thành nơi sản xuất kinh doanh.