Những quan điểm về qui mô đô thị thích hợp

Những quan điểm về qui mô đô thị thích hợp

Vấn dề qui mô đô thị thích hợp, từ lâu đã từng gây ra sự chú ý và thảo luận của nhiều nhà kinh tế học, địa lý học, sinh thái học môi trường, triết học, xá hội học và chuyên gia qui hoạch. Rất nhiều học giả đã xuất phát từ các nguyên lý khoa học và các giác độ khác nhau, để đề xuất những quan điểm khác nhau về qui mô thích hợp của dô thị. Sau đây, là quan điểm của một số nhân vật tiêu biểu:

Plato (428 – 328 trước CN) là nhà triết học cổ Hy Lạp, đã có nhiều đóng góp cho lý luận đô thị. Ong cho rằng qui mô của một thành phố nhà nước lý tưởng là 5.040 người.

–  Robert Owen (1771 – 1858) là nhà xá hội học không tưởng Anh, đã đề ra mô hình đô thị không tưởng dựa trên cơ sở tổ chức xã hội thành các tập đoàn mang tính độc lập cao. Đô thị kiểu Robert Owen là “đô thị nông thôn”, là các điểm dân cư nhỏ, được bố cục thành hình vuông có khoảng 1.200 người.

–  Francois Marie Charles Fowrier (1772 – 1858) là nhà xã hội học không tưởng Pháp. Ông chủ trương tổ chức các điểm dân cư mới theo kiểu làng xóm công xã có khả năng tự cung tự cấp và tổ chức đời sống xã hội, tập thể để thay thế cho các đô thị. Mỗi đơn vị đô thị của Fowrier có dân số khoảng 1.600 người.

–  Ebenezer Howard (1850 – 1928), là kiến trúc người Anh, đã có cống hiến lớn cho lý luận qui hoạch đô thị hiện đại. Ông đề ra lý luận về thành phố vườn và thành phố vệ tinh, cho rằng thành phố trung tâm có qui mô Iđn nhất là 58.000 người, thành phố vệ tinh có qui mô dân số khoảng 32.000 người, qui mô đất đai khoảng 400 ha.

–   N.A.Milutin là nhà qui hoạch đô thị của Liên Xô cũ, trên cơ sở vận dụng lý luận về thành phố – đường của Edowga Sambol người Mỹ, từ năm 1929 – 1930 đề ra phương án xây dựng thành phố Vôngarát theo từng dải chức năng dọc theo sông Vônga dài 70km với chiều rộng của dải không quá 5 km.

–  Tony Ganie là nhà lý luận thành phố công nghiệp người Pháp, từ năm 1901đẫ xuất phương án qui hoạch thành phố công nghiệp. Trong đó có bố trí hợp lý, rõ ràng các khu nhà ở, khu công nghiệp, khu giải trí, giao thông vận tải và hệ thống cây xanh. Ông xác định qui mô của thành phố vào khoảng 35.000 – 40.000 người.

–  Clarence Perry là nhà lý luận về tổ chức các khu thành phố theo đơn vị láng giềng. Đơn vị láng giềng có qui mô đủ lớn để có thể bố trí tại đó một trường học phổ thông cơ sở có qui mô khoảng 1.000 – 1.200 học sinh, tương đương với 5.000 – 6.000 dân, với bán kính phục vụ không quá 1/4 dặm Anh (400 m). Năm 1944, kiến trúc sư F. Gibberd thiết kế và xây dựng thành phố Harlow Anh theo quan điểm tổ chức thành các đơn vị láng giềng. Thành phố có 80.000 dân, tổ chức thành 4 đơn vị khu nhà ở, mỗi khu nhà có 2 – 4 tiểu khu với số dân khoảng 20.000 người và bán kính phục vụ khoảng 800 m. Mỗi tiểu khu nhà ở có 4.000 – 7.000 người, được trang bị một trường học phổ thông và các cửa hàng phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân.

–  E. Gloeden vào năm 1923 đưa ra quan điểm phát triển qui hoạch thành phố theo các đơn vị có chức năng khác nhau, mỗi đơn vị có qui mô khoảng 800.000 dân….

Thông qua các quan điểm khác nhau về qui mô đô thị thích hợp nêu trên ta thấy: Khái niệm qui mô đô thị thích hợp trước hết là một phạm trù mang tính lịch sử, nó được đề ra ứng vđi một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất và văn minh nhân loại. Do vậy, không tồn tại khái niệm qui mô đô thị tối ữu thống nhất cho mọi thời kỳ, mọi quốc gia, mọi đô thị. Đối với một đô thị cụ thể mà nói, không thể vì lớn mà cho là qui mô không hợp lý, mà cũng không vì nhỏ mà cho là qui mô không hợp lý. Thực ra, các đô thị lớn, trung bình và nhỏ có thể không được thật hợp lý về mặt qui mô, vấn đê là chỗ cần phải làm như thế nào để cho qui mô phát triển của một đô thị thích ứng với tính chất, điều kiện xây dựng, dung lượng qui mô tiềm tàng đã có của đô thị đó và vị trí của nó trong hệ thống đô thị của vùng hoặc của cả nước.

Qui hoạch qui mô phát triển đô thị là một trong những nội dung quan trọng của việc hoạch định chiến lược phát triển đô thị. Trên mặt lý thuyết mọi người đều thừa nhận: Qui mô đô thị quá lớn sẽ gây ra nhiều hiện tượng xấu trong quá trình cuộc sống đô thị và môi trường đô thị bị xuống cấp; ngược lại, qui mô đô thị quá nhỏ sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân. Không thể đê ra qui mô tối ưu thống nhất cho mọi đô thị trong tương lại, bởi lẽ mỗi đô thị đều có quá trình hình thành và phát triển liên tục dưđi sự ảnh hưởng của những nhân tố khác nhau, mang theo nhứng đặc điểm riêng biệt và nảy sinh những vấn dề riêng biệt. Mặc dù vậy, đối với từng đô thị mà nói, căn cứ vào mục tiêu phát triển chiến lược của nó, nó vẫn cần phải có một qui mô thích hợp với điều kiện của mình để có thể phát triển nhanh chóng, có hiệu quả. Qui mô thích hợp đô thị có thể không phải là một giá trị thật chính xác, mà chỉ là một lượng đúng trên đại thể; không phải là một lượng tĩnh tại bất biến, mà là một lượng động thái biến đổi song song với điều kiện xây dựng đô thị và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác.