Những vấn đề tồn tại của giao thông vận tải đô thị nước ta

1. Những vấn đề tồn tại của giao thông vận tải đô thị nước ta

Giao thông đô thị là vấn đề đầu tiên mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt. Đại thể từ đầu thể kỷ này, các nước công nghiệp phát triển sản xuất một số lượng Iđn ô tô con các loại và sử dụng chúng một cách rộng rái, làm cho hiện tượng ùn tắc giao thồng của các thành phố lớn trở thành một thứ bệnh phổ biến của các đô thị hiện đại. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bệnh giao thông đô thị lan đến các thành phố lớn của các quốc gia, làm cho việc chữa trị bệnh giao thông đô thị trở thành một trong những đê tài trọng đại mà nhân loại đang phải đương đâu. Mấy năm gần đây, chúng ta đă thu được những thành tựu đáng kể về xây dựng đường sá, tăng thêm phương tiện và quản lý các hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn đô thị. Tuy vậy, hiện nay giao thông vận tải đô thị vẫn còn là một vấn đê nhức nhối như đường chật hẹp, xe cộ qua lại chen chúc, mất trật tự, tốc độ thông hành giảm, lên xe, xuống xe, chạy xe, đỗ xe đêu có khó khăn, chúng chi phối ngày càng lớn sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của dân cư đô thị.

Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, đặc biệt là sau hơn 10 năm đổi mới và mở cửa, song song với sự phát triển kinh tế – xá hội, năng lực giao thông vận tải đô thị nước ta đã tăng lên lên khá nhanh, nhưng vẫn còn xa mới đáp ứng được nhu cầu của giao thông đô thị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nói chung, giao thông đô thị nưức ta đang tồn tại nhưng vấn đê chủ yếu sau đây:

a. Sự mất cân đối giũa mạng lưới đường đô thị vói phuơng tiện giao thông đô thị

Tính bình quân trong phạm vi cả nưởc, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của các loại phương tiện giao thông đô thị nước ta đều trên 10%, thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 40.000 ôtô, 10.000 xe lam, 8.000 xích lô máy và 1.000.000 xe hai bánh gắn máy. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của mạng lưới đường đô thị nước ta chỉ đạt khoảng 5 – 7%, hơn nữa, phần lớn đều được xây dựng vào niên đại 30 hoặc niên đại 60, chiều rộng thường là 5 – 6 m, đến nay đá bị hư hỏng, xuống cấp, gây nhiều khó khăn cho sự di chuyển của các phương tiện giao thông cơ giới, nhất là các ô tô chở khách và chở hàng cđ lớn.

Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng mất cân đối nổi trên là do chưa có nhận thức đầy đủ về vị trí và vai trò của mạng lưới đường đô thị, coi mạng lưđi đường đô thị là kết cấu phi sản xuất, vì vậy mà trong một thời gian dài không nghiên cứu qui hoạch phát triển mạng lưới đường đô thị, chỉ tiến hành đầu tư nhỏ giọt mang tính chắp vá cho việc xây dựng đường đô thị.

b. Sự mất cân đối giữa không gian đô thị và các tuyến đường trục của đồ thị với một độ dân cư đô thị

Nói chung, không gian đô thị nước ta rất chật hẹp với mật độ dân cư rất cao. Chẳng hạn, nội thành Hà Nội với số dân gần 1,2 triệu người sống trên một diện tích 47,5 km2. So với đô thị của các nước phát triển Âu Mỹ, mật độ dân cư này cao đến gần 10 lần, mật độ kiến trúc và tần số xe chạy cũng cao hơn 5-7 lần. Do không gian đô thị chật hẹp, nên diện tích đất dành cho giao thông chỉ đạt 6 -7 m2/ người, trong đô thị có ít các tuyến đường trục, kết cấu đường rất là không hợp lý, mỗi km2 diện tích đất đô thị mđi chỉ có khoản 3 km đường. Hơn nữa, trung tâm các đô thị lớn và đô thị trung bình của nước ta thường là nơi tập trung sự hoạt động của các ngành công thương, văn hóa, giáo dục và y tế, làm cho người xe đi lại chen chúc, xe chạy với tốc độ thấp gây ra nhiều sự cố giao thông.

Nguyên nhân trực tiếp nhất gây ra tình trạng diện tích đất đô thị bình quân đầu người của nưđc ta bị giảm đi nhanh chóng, dẫn đến giao thông đô thị quá tải là hiện tượng dân cư nông thôn nhập cư quá mức vào các đô thị, nhất là vào các thành phố lớn.

c. Sự mất căn đối giữa các phương tiện, phương thức giao thông và những bất họp lý của thể chế quản lý đô thị

Phương tiện giao thông đô thị nước ta bao gòm nhiều chủng loại với tốc độ hết sức khác nhau. Nếu như nhiều đô thị Trung Quốc có số lượng xe đạp đạt tới 1,5 – 2 người/chiếc, thì nhiều đô thị nước ta có số lượng xe máy đạt tới 3 – 4 người/chiếc. Ô tô, xe máy và xe đạp, xích lô có tốc đô nhanh chậm rất khác nhau, làm cho giao thông đô thị thường xuyên rơi vào trạng thái rối loạn, chen chúc, ùn tắc, giảm tốc độ. Hơn nứa, chính sách giao thông đô thị còn nhiều bất cập, chưa làm rõ chủ trương chuyên chở hành khách trong đô thị càn lấy phương thức giao thông công cộng bằng xe buýt làm chủ đạo, làm cho trong đại bộ phận đô thị nước ta xe máy trở thành phương tiện đi lại chủ yếu của nhân dân, chiếm tới 70 – 80%.

Đặc biệt là những bất hợp lý về thể chế quản lý đã hạn chế, kìm hãm sự phát triển của giao thông đô thị. Nhìn từ chiều dọc, qui hoạch, kế hoạch và xây dựng chia thành 3 hệ thống lớn biệt lập, giứa qui hoạch và kế hoạch, kế hoạch và xây dựng không ăn khớp vđi nhau và không ràng buộc lẫn nhau. Nhìn từ chiều ngang, đường sá có quan hệ mật thiết vđi cấp nước, thoát nước, điện lực, bưu điện … nhưng chúng thuộc các hệ thống khác nhau, kế hoạch và kênh đầu tư không phải là một, do vậy rất khó có thể phối hợp một cách hài hoà để cùng xây dựng. Xét từ mối quan hệ giữa giao thông vđi các ngành, thể chế quản lý hiện hành đem chia cắt ngành, vùng ra thành nhứng “tuyến”, “mảng” riêng rẽ “kín cổng cao tường”, dẫn đến chỗ tách rời xây dựng giao thông đô thị với phân bố sức sản xuất, biến động dân số, thay đổi cơ cấu tựu nghiệp và qui hoạch khu dân cư.