Ô nhiễm môi trường sinh thái đô thị (P2)

b. Ô nhiễm nguồn nước

Nước là tài nguyên vô cùng quí giá của mọi quốc gia trên hành tinh. Nước là “huyết dịch” làm chỗ dựa cho sự sinh tồn, vận hành và phát triển của các hệ thống sinh thái; nó thông qua sự vận động tuần hoàn không ngừng của mình dể điều hoà khí hậu và sạch hoá môi trường. Nước rất cần cho cuộc sống con người và mọi sinh vật khác, thê’ nhưng hiện nay việc sử dụng tài nguyên nước lại rất kém hiệu quả, tình trạng các nguồn nước bị ô nhiễm đã trở nên ngày càng nghiêm trọng song song với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá.

Hoạt động công nghiệp nước ta hàng năm đưa vào môi trường nước khoảng 290.000 tấn các chất độc hại. Riêng khu vực công nghiệp Việt Trì hàng năm đố vào sông Hông khoảng 2000 tấn H2SO4, 45 tấn H2S, 362 tấn lignin … thành phố Hải Phòng hàng năm đố’ vào môi trường nước 70 tấn dầu mđ, 18 tấn axit, 92 tấn clo, 17,6 tấn kim loại nặng (chì, kẽm, nitơ, thuỷ ngân … ). Thành phố Hà Nội hàng ngày có khoảng 300 000 m3 nước thải, bình quân mỗi nãm thải ra 3.600 tấn hứu cơ, 317 tấn dâu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng, dung môi và các chất độc hại khác, toàn bộ nước thải và chất thải dêu chưa qua xử lý, theo các cỗng rãnh rồi chảy vào sông hồ. Thành phố Hô Chí Minh và thành phố Biên Hoà hàng ngày xả vào sông Đồng Nai 500.000 m3 nước chưa qua xử lý; hàng năm đổ vào môi trường nước 795,8 tấn dầu mỡ, 45,6 chất lơ lửng, 3.0 tấn dung môi, 103 tấn phonol, 68 tấn lignin, 99.600 tấn chất hứu cơ, 65 tấn H2S

Nói chung trên phạm vi cả nước hiện nay, Thủ đô Hà Nội và thành phố Hô Chí Minh là hai khu vực đô thị có các nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề nhất. Tại Hà Nội, các con sông thoát nước đã trở thành các con sông đen. Chẳng hạn, Tô Lịch là sông lớn nhất trong 4 con sông thoát nước của Hà Nội hàng ngày tiếp nhận 2.000 – 3.000m3 nước thải sinh hoạt của 29.000 người và khoảng 22.0 m3 nước thải của 33 nhà máy, xí nghiệp. Khảo sát của ngành môi trường thành phố cho thấy: về tiêu chuẩn nguồn nước mặt, sông Tô Lịch ở khu vực Thượng Đình có hàm lượng chất BOD5 bẩn gấp 10 lần so với loại nguồn nước bẩn ở các nước, đặc biệt hàm lượng H2S lên tới 176 – 712 mg/1. Có những thời điếm, toàn bộ nước thải có màu trắng đen, lẫn xà phòng kem trong nước. Đặc biệt nước thải của Nhà máy bóng đèn, phích nước Rạng Đông có hàm lượng xianua lên tới 224 mg/1. Sông Kim Ngưu tiếp nhận nước thải của nhiều khu vực, trung bình là 139.000 m3/ngày. Nước sông luôn trong tình trạng yếm khí, hàm lượng H2S cao tới 11 mg/1; BOD5 rất cao: 129 mg/1; COD cao tới 495/LO2.

Tình hình các nguồn nước bị ô nhiễm cũng diễn ra nhiều đô thị của các nước đang phát triển. Ví dụ Băng Cốc (Thái Lan) trong số 1350 nhà máy đã đăng ký, có nhiều đơn vị thường tuôn chất thải xuống các kênh đào mà dân chúng sử dụng nước đó để tẩm giặt. Dòng sông Y-a-mu-na chảy vào thành phố Niu Đêli có tỷ lệ ô nhiễm vượt qua tỷ lệ an toàn cho phép. Trung Quốc thải vào môi trường nước 80 triệu m3 nước thải công nghiệp chưa qua xử lý, đã làm cho 90% lưu vực nước bị ô nhiễm. Trong số 26 con sông chủ yếu của Trung Quốc, có đến 15 bị ô nhiễm tương đối nghiêm trọng…

Ô nhiễm nguồn nước không chỉ tạo điều kiện cho sự phát sinh và phát triển nhứng bệnh nguy hiếm chết người như ung thư, dịch tả … mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động của kinh tế đô thị.