Ô nhiễm môi trường sinh thái đô thị (P3)

c. Ô nhiễm chất thải rắn

Hàng năm đô thị nước ta đào thải ra khoảng 200 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp và 100 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt. Trong khi khối lượng chất thải rắn của các đô thị đang tăng lên nhanh chóng thì khả năng thu gom, vận chuyên và xử lý lại còn nhiều hạn chế. Thành phố Nam Định với số dân là 24 vạn, hàng ngày thải ra 100 – 120 tấn rác, các ngày lễ, tết lên tới 150 tân rác, được thu gom bằng 175 xe đẩy, đưa về khoảng 15 điếm tập kết, sau đó 6 ô tô đến lấy đưa về bái rác thành phố đê xử lý bằng phương pháp thủ công. Thành phố Vinh với số dân 21 vạn, hàng năm thải ra khoảng 33.000 m3 rác, công ty môi trường đô thị mới thu gom vận chuyển ra khỏi thành phố khoảng 20.000 m3. Thành phố Huế với số dân 28 vạn hàng ngày thải ra khoảng 100 m3 rác, mới thu gom vận chuyến ra khỏi thành phố 1/2, số rác còn lại đố trên bờ hào thành, hai bờ sông Hương, sông Gia Cựu, sông Đông Ba. Nội thành thành phố Ban Mê Thuột với sô dân 13 vạn, hàng ngày thải ra 70 tấn rác, công ty vệ sinh thành phố với 4 ó tỏ chở rác và một xe xúc cũ kỹ dù có cố gắng lắm cũng chỉ giải quyết được 2/3 số rác nói trên, còn lại đành phải đắp đống trên vỉa hè, góc phố, thậm chí ngay giứa lòng đường.

Việc xử lý phân ở các đô thị nước ta cũng còn nhiều vấn đê, tỷ lệ dân đô thị có hố xí tự hoại còn có nhứng hạn chế nhất định: thành phố Hải Phòng là 15%, thành phố Hà Nội 74%; thành phố Đà Năng là 62%; thành phố Hồ Chí Minh là 54%… còn lại là các hố xí công cộng.

Một khối lượng lớn chất thải rắn đổ xuống ao, hồ, sông, biển, không chỉ gây ra ô nhiễm nguồn nước mà còn làm ách tắc dòng chảy, ảnh hường nghiệm trọng đến phòng lụt và giao thông đường thuỷ.

d. Ô nhiễm tiếng ồn

Ô nhiễm tiếng ồn tại các đô thị nước ta ngày càng gia tăng song song với sự phát triển của công nghiệp cận dại và xe có động cơ. Ngày nay ô nhiễm tiếng ồn đá ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ của con người. Tài liệu khoa học nước ngoài cho biết: Mức độ tiếng ồn khi trên 65 dBA sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến công tác, học tập của con người, về ban đêm nếu mức độ tiếng ồn từ 45 dBA trở lên thì sẽ tác động xấu đến việc nghỉ ngơi và giấc ngủ của con người. Con người sống dài ngày trong môi trường 70 – 80 dBA, sẽ cảm thấy đau dầu, mỏi mệt, không thoải mái; sống trong môi trường dài ngày trong môi trường 90 dBA, mọi người sẽ bị điếc tai, không nghe thấy gì; sống dài ngày trong môi trường 100 – 120 DBA, con người sẽ mắc các bệnh đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, cao huyết áp, tim mạch …

Hiện nay tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại các đô thị nước ta, nhất là các thành phố lđn, đêu rất nghiêm trọng. Trên các trục đường chính, có lưu lượng xe có động cơ qua lại nhiều của các thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Đà Nắng, Hà Nội, Hải Phòng … mức độ tiếng ồn đều trên dưđi 80 dBA. Mức độ tiếng ồn này cũng tương tự mức độ tiếng ồn của các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu … của Trung Quốc.

e. Diện tích thảm cây xanh đô thị thiếu nghiêm trọng

Thảm cây xanh là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống sinh thái đô thị, xanh hoá đô thị có ý nghĩa to lớn đối với việc điều hoà khí hậu, giảm nhẹ ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ của con người. Nứớc ta hiện nay có khoảng 2 triệu ha rừng đã trở thành đồi núi trọc, diện tích thảm câỵ xanh đô thị chiếm tỷ lệ thấp trong tổng diện tích đất đai tự nhiên đô thị, trình độ của nó có nhiều bất cập, còn xa mới đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần của công cuộc xây dựng các đô thị văn minh, hiện đại.

Thảm cây xanh là một vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm giải quyết trong quá trình đô thị hoá. Diện tích thảm cây xanh của Washington (Mỹ) là 45,7 m2/người, của Moscơva (Nga) là 44 m2/người, của Bình Nhưỡng (Triều Tiên) là 47 m2/người, của Cacutta (Ấn Độ) là 70,5 m2/người, của Vacxava (Ba lan) là 90 m2/người. Trong khi đó, diện tích thảm cây xanh bình quân đâu người của phần lớn các đô thị nước ta hiện nay chỉ khoảng 2 – 3 m2, riêng các thành phố Hô Chí Minh, Ban Mê Thuật, Việt trì … chỉ khoảng 1 m2.

Ngày nay, xây dựng hệ thống thảm cây xanh đô thị với qui mô thích hợp, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao đã trở thành một đề tài mang tính quốc gia và quốc tế. Bởi vì nó có quan hệ mật thiết với sự phát triển an toàn và bền vững của các đô thị. Điều này đòi hỏi chúng ta phải hết sức chú trọng trong quá trình hoạch định các chiến lược phát triển đô thị. Ngoài các loại ô nhiễm nêu trên, đô thị còn bị ô nhiễm nặng nề về nhiệt. Đô thị là nơi tập trung nhà máy, công xưởng, dân số, xe có động cơ và tiêu hao nhiều năng lượng, trở thành “đảo nóng” nằm giữa nông thôn bao quanh, thường có nhiệt độ cao hơn vùng phụ cận 12°c.