Phân bố qui mô đô thị vĩ mô

Phân bố qui mô đô thị vĩ mô

Phân bố qui mô đô thị vĩ mô là sự phân bố qui mô đô thị trên giác độ chỉnh thể của một quốc gia hoặc một vùng lớn. Thông qua phân bố qui mô đô thị vĩ mô, có thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề phân bố hợp lý lực lượng sản xuất trong phạm vi toàn quốc và phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân. Nó quan hệ nhiều với nôi dung của khoa học phân bố lực lượng sản xuất và kinh tế học phát triển. Ớ đáy, tiến hành thảo luận chủ yếu từ cấu thành qui mô cấp bậc đô thị, tức từ phân bố dân số đô thị và số lượng đô thị theo các qui mô cấp bậc khác nhau.

a. Phân bố cấp bậc của qui mô đô thị

Hệ thống đô thị của một nước hoặc một vùng, được hình thành bởi các đô thị có qui mô lớn,-trung bình, nhỏ khác nhau. Sự phân bố dân số đô thị và số lượng đô thị có qui mô cấp bậc khác nhau, hình thành cơ cấu qui mô cấp bậc của một nước hoặc một vùng. Do khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và giai đoạn phát triển đô thị hoá, nên cơ cấu qui mô cấp bậc của nhiều quốc gia có khác nhau. Thí dụ: Nhật Bản chịu sự hạn chế về diện tích đất nước nhỏ hẹp, trong cơ cấu đô thị tỷ trọng dân số dô thị lớn và số lượng thành phố lớn tương đối nhiều. So với Nhật Bản,

Cộng hoà Liên bang Đức có diện tích tương đối rộng rãi, trong cơ cấu đô thị lấy đô thị vừa làm chủ thể. Rất nhiều nước đang phát triển xuất hiện xu hướng dân số tập trung quá mức vào đô thị.

Cơ cấu qui mô cấp bậc đô thị có đặc điểm là biến đổi song song vđi sự phát triển của đô thị hoá. Xu hướng chung là dân số đô thị trước hết tập trung các đô thị lớn, sau đó phân tán đến các đô thị trung bình và nhỏ. Tiền kỳ đô thị hoá, qui mô và số lượng đô thị các cấp bậc đều có thể gia tăng, nhưng có một số ít đô thị được phát triển nhanh nhất, do có vị trí ưu việt, điều kiện tài nguyên phong phú và cơ sở cũ hùng hậu. Trong một thời kỳ nhất định, tỷ trọng dân số của các đô thị lớn và trung bình trong tổng số dân số không ngừng tăng lên. Điều này chủ yếu là do, tiền kỳ đô thị hoá và công nghiệp hoá, sự phát triển đô thị chịu sự hạn chế rất lớn của các nhân tố tài nguyên, trình độ kinh tế, phương tiện kỹ thuật và giao thông vận tải, làm cho dân số và kinh tế tụ hội đô thị lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao. Thời kỳ phát triển của đô thị hoá, phân bố qui mô đô thị dần đần chậm lại do sự chế ước của kỹ thuật và kinh tế, giá thành vận tải đường dài hạ thấp, giao thông phát triển rút ngắn cự ly không gian, đã bù đắp tổn thất mà phân tán công nghiệp mang lại cho hiệp tác chuyên môn hoá; dồng thời, bệnh tật và mâu thuẫn của đô thị lớn cúng làm tăng giá thành tụ hội, nhưng phân bố qui mô cấp bậc đô thị sẽ phát sinh biến đổi tương ứng, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị lớn chậm lại, có đô thị trung tâm còn xuất hiện hiện tượng suy giảm dân số, còn các đô thị trung bình và nhỏ sẽ có sự phát triển tương đối nhanh, con số dô thị trung bình và nhỏ và tỷ trọng dân số của nó có xu hướng tăng lên.

Việt Nam là một nước đang phát triển, dân số đông, đất đai canh tác ít, trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Quá trình đô thị hoá mới ở giai đoạn đầu, phân bố qui mô cấp bậc đô thị cũng lấy đô thị lớn làm đặc điểm. Xét từ tình hình đất nước và giai đoạn phát triển đô thị hoá của nước ta, dân số đô thị và số lượng đô thị hưđng tới đô thị là có căn cứ nhất định. Vì vậy, một nội dung quan trọng của chiến lược đô thị hoá của Việt Nam là phát triển hợp lý đô thị trung bình, làm cho nhiều đô thị trung bình có tiền đồ phát triển bước vào hàng ngũ các đô thị lđn. Đương nhiên, việc này không bài xích việc khống chế qui mô của một số đô thị lớn hiện có mức hợp lý. Đồng thời, tình hình phức tạp và tính nhiều tàng lớp của cơ cấu kinh tế – xã hội của nước ta củng đòi hỏi phải lựa chọn chiến lược phát triển mạnh mẽ các đô thị nhỏ. Như vậy, khi hoạch định chiến lược đô thị hoá, vừa phải nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm đô thị hoá của thế giới, vừa phải khắc phục khuynh hưđng tuyệt đối hoá và tính phiến diện thoát ly thực trạng kinh tế-xã hội của đất nước.

b. Lý luận “Luật qui mô – thứ tự”

Như mọi người đều biết, một đặc trưng rất rõ ràng của qui mô đô thị là tĩnh đa dạng của nó, tức mỗi một nước hoặc vùng đều cổ nhiều đô thị có qui mô khác nhau. Vấn đề đặt ra là sự phân bố các đô thị có qui mô khác nhau đó có tính qui luật hay không ? Sự lý giải lý luận về vấn đề này không nhiều, nhưng nghiên cứu thống kê phát hiện rằng: Phân bố qui mô đô thị mang tính qui luật về ý nghĩa thông kê kinh tế. Phán bố Pareto (Pareto distribution) là sự phân bố rất phổ biến để nghiên cứu qui mô đô thị. Biểu thị bằng công thức:

G (X) = AX’a                  (1)

G (X) biểu thị thứ tự tên gọi qui mô dân số mà đô thị X chiếm giứ trong sự xắp xếp qui mô đô thị toàn quốc.

A và a là hằng số đánh giá thu được trong tư liệu.

Công thức biểu thị vị trí thứ tự của một đô thị nhân với qui mô của đô thị đó, tích số của nó là một hằng số. Phân bố Pareto thường là sự phân bố tích luỹ bắt đâu từ bộ phận đứng đầu. Các học giả dùng phân bố Pareto, ‘từ tư liệu dân số đô thị của nhiều quốc gia để đánh giá trị a trong công thức, kết quả phát hiện a thường thường vào khoảng là 1. Như vậy, phân bố Pareto có thể viết thành:

G (X) – AX’1                       (2)

Đây là “Luật qui mô – thứ tự” nổi tiếng, cho GX = 1, tức đô thị qui mô lđn nhất, có X = A; vì vậy, A là con số qui mồ dân số của khu vực đô thị lđn nhất. Nhân hai vế của công thức (2) với X ta được:

XG (X) = A                        (3)

Như vậy, tích số thứ tự tên gọi đô thị với qui mô dân số là một hằng số, nó thường bằng con số qui mô dân số của đô thị lớn nhất. Điêu này nói rằng, đô thị lđn thứ hai thường thường là 1/2 của qui mô đô thị lớn nhất, đô thị lớn thư ba là 1/3 của qui mô đô thị lớn nhất, V.V…. Căn cứ vào sự kiểm nghiệm “Luật qui mô – thứ tự” mà học giả Mỹ Smith tiến hành nghiên cứu sự phân bô’ qui mô đô thị Mỹ, phương sai bình quân (R2) đạt tới 0,984. Ông cho rằng, “Phân bố Pareto” mô tả rất tốt sự phân bố qui mô đô thị ở Mỹ, hơn nứa còn có giá trị ứng dụng với nhiều nước. Nhưng “Luật qui mô – thứ tự” còn chưa được giải thích đây đủ về mặt lý luận, đồng thời sự khác hiệt về cơ chế phát triển đô thị và tình hình đất nước của các quốc gia, đều là các nhân tố ảnh hưởng đến phạm vi thích hợp và giá trị thích hợp của sự phân bố Pareto.

Từ “Luật qui mô – thứ tự” rút ra khái niêm: Mức độ ngôi đứng dầu của đô thị. Nó chỉ tỷ lệ về qui mô dân số của đô thị ngôi thứ hai với đò thị ngôi đứng đầu, biểu thị bằng công thức là:Pị 1 ~ p2

I– là mức độ ngôi đứng đầu của đô thị;

Pl là dân sô’ của đô thị ngôi đứng đàu;

P2 là dâri số cùa đô thị ngôi lổn thứ hai.

Căn cứ “Luật qui mô – thứ tự”, mức độ ngôi đứng dầu của đô thị thường là 2. Khái niệm mức dô ngôi đứng đàu của đô thị có ý nghĩa ứng dụng tương đối mạnh. Thí dụ vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên nước ta tuy có tài nguyên phong phú, nhưng kinh tế còn lạc hậu, nên chỉ có một số đồ thị tương đối lớn với tính cách là đô thị trung tâm của vùng: thành phố Việt Trì, thành phố Thái Nguyên, thành phố Đà Lạt, thành phố Buôn Mê Thuật …. Ngoài ra, mức độ ngôi đứng dầu của đô thị còn có thể nói lên trình độ tập trung qua mức dân số của một nước hoặc một vùng, do đó từ một khía cạnh khác phản ánh loại hình phân bố qui mô đô thị của một nước hoặc một vùng. Ví dụ dân số Nhật Bản tập trung tương đối cao ở đô thị, chỉ số ngôi đứng dầu 4,29; mức độ tập trung dân số đô thị của Mỹ và Canada tương đối thấp, chỉ số mức độ ngôi đứng dầu phân biệt là 1,61 và 1,02. Phần lớn các nước dang phát triển thường xuất hiện tình hình đô thị hoá quá mức, mức độ tập trung dân số đô thị tương đối cao, điều này có thể được phản ánh ở mức độ nhất định thông qua chỉ số mức độ ngôi đứng đấu; chẳng hạn, chỉ số mức độ ngôi đứng đầu của đô thị Mexico là 5,97, Peru là 9,38 và của Achentina là 12,10. Đương nhiên, cũng còn một số nước đang phát triển có mức độ tập trung dân số đô thị tương đối thấp, ví dụ, chỉ Smức độ ngôi đứng đầu của đô thị Brazin là 1,48, ở Ai Cập là 2,19.