Phân bố qui mô đô thị vùng

Phân bố qui mô đô thị vùng

Đây là sự tiếp tục đi sâu nghiên cứu phân bố đô thị vĩ mô. Nó kết hợp với việc phân tích sự khác biệt về qui mô cấp bậc đô thị, đật trọng tâm vào việc nghiên cứu sự phân bố không gian của qui mô cấp bậc đô thị.

a. Lý luận địa lý trung tâm

Lý luận địa lý trung tâm có thể từ sự khác biệt cấp bậc tồn tại trong phạm vi dịch vụ mà đô thị cung cấp và từ sự khác biệt cấp bậc của công năng đô thị, để đưa ra một số giải thích lý luận vê sự khác biệt qui mô đô thị và sự phân bố không gian của qui mô đô thị.

Nói chung, qui mô đô thị và công năng đô thị có quan hệ thích ứng với nhau. Qui mô đô thị quá lớn, công năng đô thị thường quá nhiều. Bởi lẽ, qui luật hiệu quả kinh tế qui mô đòi hỏi việc cung cấp một loại dịch vụ công cộng nào đó, cần phải có một qui mô dân số tương ứng làm tiền đê cho việc thu được hiệu quả cơ bản. Nếu tại một đô thị nhỏ mà xây dựng một toà nhà bưu điện cđ lđn hoặc là một siêu thị kinh doanh nhứng mặt hàng cao cấp đắt tiền, thì sẽ gây ra tổn thất hiệu quả kinh tế do tỷ suất sử dụng công trình quá thấp. Cũng như vậy, chỉ có khu vực đô thị tương đối lớn mới thích hợp cho việc bố trí sân bay, nhà ga, bến xe. Vì vậy, qui mô đô thị lớn hay nhỏ, trực tiếp ảnh hưởng đến công năng đô thị nhiều hay ít; hơn nữa, qui mô đô thị lớn hay nhỏ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến qui mô lớn hay nhỏ của từng hạng mục công năng. Dùng sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa qui mô đô thị với công năng dô thị, ta sẽ được một đường cong u nghiêng sang bên phải (xem sơ dồ).

Cổng năng

Phân bố qui mô đô thị vùng 1

 

Giả thiết hạng mục đô thị có đơn vị là 1 (như 100) là số công năng cơ bản cần cho tất cả mọi đô thị có qui mô khác nhau, thì song song với việc qui mô đô thị tăng thêm 1,2,3 … đơn vị, số lượng và qui mô công năng của đô thị cũng thêm tương ứng. Hơn nứa tỷ suất nghiêng của từng đường nghiêng u cũng tương đối thấp trong giai đoạn bắt dầu, về sau sẽ tăng thêm với các mức độ khác nhau.

Hạng mục công năng đô thị nhiều hay ít, qui mô công năng đô thị lớn hay nhỏ, trực tiếp quyết định năng lượng lan toả của một đô thị lớn hay nhỏ, quyết định phạm vi khu vực và vùng thị trường cung cấp dịch vụ của đô thị. Đô thị lđn có công năng tương đối nhiều và năng lượng lan toả tương đối mạnh. Vì vậy, nó có thể cung cấp dịch vụ, tập trung và phân phát hàng hóa cho một khu vực tương đối rộng lớn, do đó mà hình thành trung tâm công năng về kinh tế, mậu dịch, thông tin, khoa học trong phạm vi tương đối lđn. Đô thị nhỏ có công năng nhỏ, năng lượng lan toả nhỏ và diện tích lan toả cũng nhỏ, chỉ có thể hình thành trung tâm công năng kinh tế, mậu dịch trong khu vực nhỏ. Ta có thể coi khu đất trung tâm nằm vị trí trung tâm các vòng lan toả, phát huy công năng lan toả trung tâm, là đất trung tâm.

Sự hình thành các đô thị có qui mô cấp bậc khác nhau, không chỉ quyết định điều kiện tự nhiên, lịch sử và kinh tế xã hội, mà còn là hình thức thực hiện có tính đa dạng của nhu cầu con người đối với đô thị. Nếu tất cả mọi đô thị đêu có công năng đô thị như nhau, thì đứng trên giác độ toàn xã hội mà xét là phi kinh tế, nên người ta cần nhứng đô thị có qui mố khác nhau. Chẳng hạn, các đô thị nhỏ có ít công năng, nhưng chúng có thể có công năng đặc biệt là “làm nhẹ trọng lượng, thu nhỏ thể tích”, tức là các đô thị nhỏ tiến hành gia công sơ bộ nông sản hoặc khoáng sản trong khu vực phụ cận, thực hiện sự phân ly sản phẩm gia công sơ bộ với cặn bã còn lại* Cái đó làm cho sản phẩm mà công nghiệp hoặc dân số mà đô thị lđn sử dụng có trọng lượng nhỏ và thể tích nhỏ hơn so với sản phẩm trước, do vậy mà giảm bớt khối lượng hàng hoá vận chuyển.

Theo lý luận địa lý trung tâm, các đô thị có qui mô cấp bậc khác nhau trong khu vực lan toả công năng tương ứng có tác dụng là trung tâm tập trung, phân phát hàng hoá và gia công, do đó mà hình thành đất trung tâm có cấp bậc khác nhau. Lý luận địa lý trung tâm chủ yếu ứng dụng “nguyên tắc thị trường” để giải thích sự phân bố không gian của đất trung tâm có cấp bậc khác nhau, tức dùng sự phân bố của khu vực thị trường thích hợp nhất với việc tập trung phân phát và lưu thông hàng hoá, để phân tích phân bố cấp bậc của đất trung tâm. Lý luận này cho rằng, diện tích của khu vực thị trường của mỗi một mảnh đất trung tâm cao hơn một cấp, rất có lợi cho việc tổ chức tập trung phân phát và lưu thông hàng hoá, do vậy, phân bố đất trung tâm có cấp bậc khác nhau biểu hiện thành hình lục lăng.

b. Mô hình và loại hình hệ thống đô thị vùng

Lý luận địa lý trung tâm chỉ từ giác độ “nguyên tắc thị trường” hoặc “lan toả công năng” của việc phân bố đô thị trên không gian để tiến hành phân tích. Sự phân bố không gian của qui mô đô thị hiện thực, không chỉ phù hợp với nguyôn tác “có lợi nhất cho khu vực thị trường

Iưu thông và tập trung phân phát hàng hoá” của phát triển đô thị, do vậy hình thành hình thức phân bố qui mô đô thị vùng phong phú. Trong đó có sự phân bố chính qui căn cứ vào phạm vi lan toả công năng và khu vực thị trường để phân bố đất trung tâm nhiều tầng lớp, được hình thành căn cứ vào lý luận địa lý trung tâm, ta có mô hình phân bố đô thị dạng dải, mô hình phân bố đô thị dạng chuỗi, mô hình phân bố đô thị dạng lan toả. Mô hình đô thị khác nhau, có công năng khác nhau và phát huy tác dụng khác nhau, chúng đều tồn tại có căn cứ khách quan.