Phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị (P1)

Phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

Cơ cấu các ngành kinh tế đô thị là tỷ lệ về lượng giứa các ngành kinh tế và hình thức kết hợp qua lại xác định giữa chúng. Cũng giống như muôn vàn những loại kết cấu vật chất của tự nhiên quyết định công năng của những loại vật chất khác nhau. Cơ cấu các ngành kinh tế đô thị là nhân tố bên trong quyết định công năng kinh tế và tính chất của đô thị, đồng thời chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế đô thị là một nguyên nhân quan trọng của tăng trưởng kinh tế đô thị.

Khi nghiên cứu cơ cấu các ngành kinh tế đô thị, trước hết cần làm rõ vấn đề phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị. Phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị tức là căn cứ theo những nguyên tắc nhất định để tiến hành phân giải và tổ hợp các ngành kinh tế đô thị, qua đó xác định tỷ lệ về lượng và hình thức kết hợp qua lại giứa chúng.

Mọi người đều biết, cơ cấu kinh tế quốc dân được phân loại theo nhiều tiêu thức khác như: ngành, vùng, sở hữu, qui mô, công nghệ, xuất – nhập khẩu …. Phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị có nhiều chỗ giống với phân loại cơ cấu kinh tế quốc dân, dồng thời lại có nhứng đặc điểm riêng. Cơ cấu các ngành kinh tế đô thị chủ yếu được phân loại theo ba phương pháp sau:

a. Phân theo ba khu vục kỉnh tế cơ bản

Xét theo quan điểm kinh tế hiện đại, cơ cấu các ngành kinh tế nói chung được lý giải thành cơ cấu kinh tế quốc dân của một nước hoặc của một vùng. Nền kinh tế quốc dân được chia ra thành ba khu vực cơ bản: khu vực thứ nhất là nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp, lâm nghiệp; khu vực thứ hai là công nghiệp theo nghĩa rộng, chủ yếu có các ngành khai khoáng, chế tạo, xây dựng; khu vực thứ ba là dịch vụ theo nghĩa rộng, bao gồm các ngành thương nghiệp, dịch vụ, tiền tệ, bảo hiểm, giao thông vận tải, bưu điện viễn thông, khoa học, giáo dục, văn hoá, y tế, hành chính nhà nước, quốc phòng …. Người khởi xướng của lý luận ba khu vực kinh tế là nhà kinh tế học Ôxtralia Philip và nhà kinh tế Anh Klin. Hai ông này tiến hành phân loại các ngành kinh tế theo lịch sử phát triển và đặc điểm sản xuất của chúng, ví như khu vực kinh tế thứ nhất hưởng vào khai thác những sản vật của tự nhiên, khu vực kinh tế thứ hai hướng vào gia công những sản phẩm lấy trong giới tự nhiên, khu vực kinh tế thứ ba hướng vào việc sản xuất những của cải vô hình.

Phương pháp phân loại này về đại thể phản ánh trình tự phát triển theo lịch sử của các ngành kinh tế quốc dân, do vậy nó được nhiều nước trên thế giới ứng dụng.

Kinh tế đô thị cũng tồn tại ba khu vực cơ bản này, chẳng qua chỉ là tỷ trọng của khu vực thứ nhất tương đối thấp mà thôi. Vì vậy sự phân loại này cũng trở thành một phương pháp phân loại các ngành kinh tế đô thị. Đặc điểm lớn nhất của phương pháp phân loại này là nó có thể khái quát được toàn bộ hoạt động kinh tế trong quá trình vận động, phát triển của kinh tế đô thị, nhờ đó mà có thể phản ánh tương đối toàn diện vị trí kinh tế của các ngành kinh tế đô thị và mối quan hệ qua lại giữa chúng.

Để tiến hành thống kê một cách chính xác sự hoạt động của các ngành kinh tế và thống nhất sự phân loại của các quốc gia trên thế giới. Liên hiệp quốc căn cứ lý luận và phương pháp phân loại ba khu vực, năm 1971 đã công bố ” Các chỉ tiêu phân loại công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế của tất cả các hoạt động kinh tế ” (Indexes to the International Standard Industrial Classificaton of All Economic Activities ) gọi tắt là SIC. Phương pháp phân loại này trước hết đem toàn bộ các hoạt động kinh tế phân ra thành 10 loại lớn là:

–    Ngành nông nghiệp, săn bắn, lâm nghiệp và ngư nghiệp;

–     Ngành khai khoáng và lấy đá;

–     Ngành chế tạo;

–     Ngành điện lực, than, cấp nước;

–     Ngành xây dựng;

–     Ngành bán buôn và bán lẻ, quán ăn và khách sạn;

–     Ngành vận tải, kho tàng và bưu điện;

–   Ngành tiền tệ, bất động sản, bảo hiểm và phục vụ mang tính thương nghiệp;

–    Phục vụ của các đoàn thể xă hội, xã hội và cá nhân;

–    Các hoạt động khác không thể phân loại.

Sau đó trong mỗi loại lớn lại chia ra thành một số loại vừa, trong mỗi loại vừa lại chia ra thành một sô’ loại nhỏ, trong mỗi loại nhỏ lại chia ra thành một số hạng chi tiết.