Phân loại cơ cấu các ngành kinh tế đô thị (P2)

b. Phân theo loại hình thâm canh các yếu tố sản xuất trong các ngành kinh tế

Tuỳ theo tỷ trọng của sức lao động, vốn và chất xám trong các ngành kinh tế khác nhau, ta có thể qui chúng thành ba loại hình cơ bản: Loại hình thâm canh sức lao động, loại hình thâm canh vốn, loại hình thâm canh chất xám. Lịch sử phát triển sản xuất chứng tỏ: sản xuất một mặt phát triển theo thứ tự từ nông nghiệp, đến công nghiệp, rồi đến dịch vụ; mặt khác cũng phát triển từ chủ yếu dựa vào sức lao động, tiến lên chủ yếu dựa vào số lượng vốn, tiến thêm một bước nứa chủ yếu dựa vào chất xám. Trong sản xuất công nghiệp cận đại, ngành sản xuất thuộc loại hình thâm canh sức lao động như công nghiệp dệt may, ngành sản xuất thuộc loại hình thâm canh vốn như công nghiệp gang thép, ngành sản xuất thuộc loại hình thâm canh chất xám như công nghiệp vi điện tử, công nghiệp nhất thể hoá cơ điện. Hiện nay, song song với sự phát triển sản xuất và sự tiến bộ khoa học công nghệ, tỷ trọng của các ngành sản xuất thuộc loại hình thâm canh chất xám sẽ ngày càng cao.

Phương pháp phân loại các ngành sản xuất này có ý nghĩa quan trọng trong riền kinh tế đô thị, đặc biệt đối vđi sự tăng trưởng kinh tế đô thị. Bởi lẽ, giá trị gia tăng của ba loại ngành sản xuất đó khác nhau, loại hình thâm canh vốn cao hơn loại hình thâm canh sức lao động, loại hình thâm canh chất xám lại cao hơn loại hình thâm canh vốn. Các ngành sản xuất truyền thông chủ yếu là các ngành sản xuất thâm canh sức lao động và thâm canh vốn, các ngành sản xuất thâm canh chất xám là các ngành sản xuất hiện đại, mới ra đời như vi điện tử, hàng không vũ trụ, vật liệu mới, năng lượng mới, công trình hải dương, công trình sinh vật, nhất thể hoá cơ điện. Phương pháp phân loại theo trình độ thâm canh các yếu tố sản xuất, xét về mặt không gian, chủ yếu được biểu hiện trong phạm vi đô thị, vì rằng các ngành sản xuất mới ra đời đều là các ngành dẫn dầu của các đô thị hiện đại.

c. Phân thành các ngành kinh tế xuất khẩu và các ngành kinh tế nội địa

Đô thị vđi tính cách là trung tâm phát triển kinh tế của quốc gia hoặc của khu vực, hoạt động kinh tê’ của nó chủ yếu là hướng ra ngoài đô thị, không chỉ hướng ra các khu vực khác trong nước, mà còn hướng ra thị trường quốc tế. Như vậy, các ngành kinh tế đô thị chia ra thành bồ phận thoả mãn nhu cầu thị trường bên ngoài đô thị và bộ phận thoả mãn nhu cầu mang tính nội địa trong đô thị; bộ phận trưđc gọi là các ngành kinh tế xuất khẩu, bộ phận sau gọi là các ngành kinh tế nội địa với chức năng vừa thoả mãn nhu cầu hữu quan trong hoạt đông sản xuất của các ngành kinh tế xuất khẩu, vừa thoả mãn nhu cầu sinh hoạt thường nhật của dân cư đô thị.

Các ngành kinh tế xuất khẩu được gọi là các ngành kinh tế cơ sở hoặc là cơ sở kinh tế của đô thị, vì chúng quyết định tính chất, công năng của đô thị, do đó quyết định phương hướng, qui mô và tốc độ phát triển của kinh tế đô thị. Các ngành kinh tế nội địa tuy là các ngành kinh tế phi cơ sở của đô thị, không phải là nhân tố động lực của sự phát triển đô thị, nhưng chúng có vai trò trợ thủ đối với các ngành kinh tế cơ sở của đô thị, công năng của một đô thị có được phát huy dầy đủ hay không thường được quyết định bởi sức tải của các ngành kinh tế nội địa lớn hay nhỏ.

Các ngành kinh tế xuất khẩu và các ngành kinh tế nội địa của đô thị là hai bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau và chế ưđc lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế đô thị: các ngành kinh tế xuất khẩu là động lực của sự tồn tại và phát triển các ngành kinh tế nội địa, các ngành kinh tế nội địa là điều kiện tòn tại và phát triển của các ngành kinh tế xuất khẩu. Giữa hai bộ phận đó có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về số lượng: sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành kinh tế xuất khẩu sẽ đòi hỏi phải gia tăng lượng tựu nghiệp; sự gia tăng nhu cầu đối với các ngành kinh tế nội địa cũng dẫn đến sự gia tăng lượng tựu nghiệp, giữa bộ phận lượng tựu nghiệp đầu tiên của các ngành kinh tế xuất khẩu và bộ phận gia tăng lượng tựu nghiệp của các ngành kinh tế nội địa có mối quan hệ

Sự khác biệt giữa các ngành kinh tế xuất khẩu và các ngành kinh tế nội địa chứng tỏ rằng đô thị là một hệ thống không gian có tính song trùng. Đô thị một mặt mang tính hướng ngoại, phục vụ nhu cầu của các khu vực ngoài đô thị và xuất khẩu; mặt khác mang tính hướng nội, phục vụ nhu cầu trong nội bộ đô thị. Thuộc mặt thứ nhất chủ yếu là các ngành công nghiệp, thương nghiệp và tiền tệ; Mặt sau chủ yếu là các ngành phục vụ sản xuất, phục vụ sinh hoạt, văn hóa giải trí, xây dựng thị chính. Mặt trước phản ánh đặc trưng công năng của đô thị, còn mặt sau thì về cơ bản các đô thị đêu tương tự.

Phân loại các ngành kinh tế đô thị là tiền dề để nhận thức cơ cấu các ngành kinh tế đô thị, vđi các phương pháp phân loại khác nhau sẽ có các loại hình cơ cấu khác nhau, đặc biệt là phương pháp phân loại cuối cùng và cơ cấu do nó hình thành, càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự vận động riêng có của đô thị, nó tác động trực tiếp đến việc phát huy vai trò chiến lược của một đô thị trong toàn quốc hoặc trong khu vực, và chế định chiến lược phát triển kinh tế đô thị có khoa học.