Phân loại đô thị và tính chất của từng đô thị

Phân loại đô thị

Mục đích của việc phân loại đô thịđể phục vụ cho công tác phát triển và quản lý đô thị. Đô thị được chia thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào tính chất, qui mô và vị trí, vai trò của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia. Tính chất của đô thị được xác định dựa theo các yếu tố sản xuất chính và những hoạt động kinh tế trội của đô thị, đặc biệt quan trọng trong sản xuất công nghiệp.

Thành phố công nghiệp lấy yếu tố sản xuất công nghiệp làm hoạt động chính, nó là nhân tố cấu thành và phát triển đô thị. Ngoài ra còn có các thành phố mang tính chất hành chính, thành phố văn hoá nghỉ ngơi du lịch, thành phố khoa học, thành phố cảng …

Mỗi đô thị có nhiều chức năng hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động chính của đô thị. Một khi các chức năng hoạt động khác được tổ chức hợp lý và phối hợp nhịp nhàng với hoạt động chính của đô thị, tính chất trội của từng đô thị sẽ tác động lớn đến sự phát triển lâu dài của đô thị đó trong hệ thống đô thị quốc gia.

Theo Quyết định số 132/HĐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), đô thị nước ta được phàn thành 5 loại:

a. Đô thị loại I (rất lớn)

Là đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, vãn hoá – xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, giao thông, công nghiệp, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước.

Dân số đô thị có trên 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >90% tổng số lao động đô thị. Mật độ dân cư bình quân trên 15.000 người/km2.

Loai đô thị này có tỷ suất hàng hoá cao, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và mạng lưđi công trình công cộng dược xây dựng đồng bộ.

Đến 1997 [21] nước ta có 3 đô thị loại I là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng.

b. Đô thị loại II (lớn)

Là đô thị lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội, sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ, giao thông, công nghiệp, giao dịch quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ.

Dân số đô thị có từ 35 vạn đến dưđi 1 triệu người. Tỷ lê lao đông phi nông nghiệp >90% tổng số lao động đô thị. Mật độ dân cư bình quân trên 12.000 người/km2.

Loai đô thị này có sản xuất hàng hoá phát triển, kết cấu hạ tàng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới dồng bộ.

Đến 1997 [21] nước ta có 5 đô thị loại II là thành phố

Vinh, Huế, thành phố Đà Nẩng, thành phố Biên Hoà, thành phố ơân Thơ.

c. Đô thi loại III (trung bình lớn)

Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tập trung, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với từng vùng lãnh thổ.

Dân số có từ 10 đến 35 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn). Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ằ 80% tổng số lao động đô thị. Mật độ dân cư trung bình trên 10.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn).

Loại đô thị này có sản xuất hàng hoá tương đối phát triển, kết cấu hạ tàng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt.

Các đô thị loại III của nước ta đến 1997 [21] là thành phố Việt Trì, thành phố Thái Nguyên, thành phố Hạ Long, thành phố Nam Định, thành phố Thanh Hóa, thành phố Qui Nhơn, thành phố Ban Mê Thuột, thành phố Nha Trang, thành phố Đà Lạt, thành phố Vũng Tàu, thành phố Mỹ Tho, thành phố Hải Dương.

d. Đô thị loại IV (trung bình nhỏ)

Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh.

Dân số có từ 3 vạn đế’n 10 vạn người (vùng núi có thể thấp hơn). Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >70% tổng số

lao động đô thị. Mật độ dân cư trung bình trên 8.000 người / km2 (vùng núi có thể thấp hơn).

Các đô thị này đã và đang được đầu tư xây dựng từng phần kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng.

Ở nước ta hiện nay, phần lđn các thị xá với tính cách là thủ phủ của các tỉnh đều là các đô thị loại rv.

e. Đô thị loại V (nhỏ)

Là đô thị nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế-xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, có vai trò thức đẩy sự phát triển của một huyện hoặc một vùng trong huyện.

Dân số có từ 4.000 đến 30.000 người (vùng núi có thể thấp hơn). Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >60% tổng số lao động đô thị. Mật độ dân cư trung bình trên 6.000 người / km2 (vùng núi có thể thấp hơn).

Các đô thị này bưđc đầu được xây dựng một sô’ kết cấu hạ tàng kỹ thuật và công trình công cộng.

Thuộc đô thị loại V nước ta hiện nay, chủ yếu là các thị trấn vđi tính cách là trung tâm của huyện, ngoài ra còn có một số thị tứ với tính cách là trung tâm của một xã hoặc liên xã.