Phát triển kinh tế quốc dân và đô thị hoá

Phát triển kinh tế quốc dân và đô thị hoá

Như trên đã trình bày, quá trình đô thị hoá có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế quốc dân. Đô thị hoá với tính cách là một loại hiện tượng và quá trình kinh tế, một mặt là hình thái hiện thực về sự bố cục trên không gian của việc không ngừng đổi mới kinh tế quốc dân, là quá trình không ngừng tổ chức lại sự phân bổ tài nguyên trên không gian; mặt khác, sự không ngừng nâng cao trình độ đô thị hoá lại làm cho cơ cấu kinh tế – xã hội và cơ cấu các ngành sản xuất phát sinh biến đổi to lớn, thúc đẩy sự phân bổ ưu hoá tài nguyên giữa các ngành sản xuất và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế quốc dân.

Để làm rõ mối quan hệ giữa đô thị hoá và phát triển kinh tế quốc dân, trước hết cần phân tích số liệu thống kê dưới đây:

Mối quan hệ giữa tỷ trọng dân số đô thị hoá với giá trị tổng sản lượng kinh tế quốc dân của một số nước (Năm 1981)

 

 Phát triển kinh tế quốc dân và đô thị hoá 1
 

(1) Thái Hiếu Hàm: Kinh tế học thành th XHCN, NXB Đại học Nam Khai (Trung Quốc), trang 30

Từ biểu trên có thể thấy, tỷ trọng giữa dân số đô thị và trình độ phát triển kinh tế quốc dân có mối quan hệ qua lại tương đối mật thiết. Trình độ phát triển kinh tế quốc dân càng cao, giá trị tổng sản lượng bình quân đầu người càng cao, tỷ trọng dân số đô thị trong tổng dân số tức trình độ đô thị hoá thường thường cũng càng cao.

Nguyên nhân làm cho trình độ đô thị hoá và trình độ phát triển kinh tế quốc dân có mối quan hệ qua lại mật thiết là:

Thứ nhất, đi đôi với việc nâng cao trình độ phát triển kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế quốc dân sẽ có sự biến đổi tương ứng. Thực phẩm là nhu cầu số một cho sự sinh tồn của con người, trình độ phát triển kinh tế càng thấp, tỷ trọng của nông nghiệp trong toàn bộ riền kinh tế quốc dân sẽ càng cao. Song song với sự phát triển kinh tế, cơ cấu của ngành đầu tư tài nguyên vật chất và tài nguyên nhân lực cùng vđi cơ cấu ngành sản xuất tương ứng với nó, sẽ dần dân chuyển dịch sang ngành chế tạp và ngành sản xuất thứ ba. chế bên trong chi phối loại chuyển dịch này là những sự khác biệt về áp dụng công nghệ mới và kích thích giá cả. Trong đó, sự khác biệt của tính co giãn nhu cầu thu nhập là một cơ chế điều tiết quan trọng. Tính co giãn nhu cầu thu nhập thực phẩm thấp, nhu cầu của con người đối với thực phẩm sẽ song song vđi nâng cao mức thu nhập mà giảm thiểu một cách tương đối; ngược lại, tính co giãn nhu cầu thu nhập của sản phẩm ngành chế tạo và các loại dịch vụ tương đối cao, sự nâng cao mức thu nhập sẽ gia tăng tương đối nhu cầu của con người đối vứi sản phẩm ngành chế tạo và các loại dịch vụ. Ở đây nảy sinh hiện tượng cơ cấu nhu cầu biến đổi song song với sự nâng cao trình độ phát triển kinh tế, tức là nhu cầu thực phẩm chuyên dịch với qui mô lớn sang sản phẩm ngành chế tạo và các loại dịch vụ. Sự biến đổi cơ cấu nhu cầu này, tất nhiên đem theo cơ cấu ngành đầu tư và cơ cấu sản xuất chuyển dịch với qui mô lớn từ ngành sản xuất thứ nhất sang ngành sản xuất thứ hai, thứ ba.

Thứ hai, phương thức sinh tồn không gian của các ngành sản xuất, thậm chí của các nghề có yêu cầu khác nhau. Nông nghiệp lấy sử dụng và kinh doanh đất đai làm đặc trưng chủ yếu, sản xuất và kinh doanh nông nghiệp về bố cục không gian không đòi hỏi tụ hội vđi qui mô lớn, mà lấy tính phân tán làm đặc trưng cơ bản. Làng bản và điểm dân cư phân tán tiện lợi cho nông dân tiếp cận với đất đai mà họ kinh doanh. Tất nhiên, nông nghiệp hiện đại yêu cầu tập trung đất đai và thao tác cơ giới hoá, có tăng cường yêu cầu đối với tụ hội, nhưng so sánh mà nói, ngành sản xuất thứ ba coi việc tụ hội càng nhiều dân số và hoạt động kinh tế trên không gian là điều kiện cơ bản của sự phát triển.

Vì vậy, song song với bố cục của sự phát triển kinh tế quốc dân dần dần từ lấy nông nghiệp làm chủ chuyển sang lấy công nghiệp và ngành sản xuất thứ ba làm chủ, khu vực đô thị với tính cách là hệ thống khu vực tập trung cao độ dân số và hoạt động kinh tế, sẽ được phát triển một cách đầy đủ, kinh tế đô thị từng bước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Sự gia tăng qui mô đô thị và số lượng đô thị, sự gia tăng tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số xá hội, làm cho trình độ đô thị hoá được nâng cao một cách tương ứng. Do vậy có thể thấy, quá trình đô thị hoá từ ý nghĩa nào đó mà nói, tức là hình thái biểu hiện và hình thái thực hiện của sự bố cục trên không gian của việc không ngừng đổi mới sự phát triển kinh tế quốc dân, cũng là việc phân bổ lại tài nguyên trên không gian song song với sự biến đổi cơ cấu ngành sản xuất. Do đó trình độ đô’thị hoá và sự phát triển kinh tế quốc dân có quan hệ tương đối mật thiết. Đô thị hoá trên mức độ lớn phụ thuộc vào sự nâng cao trình độ phát triển kinh tế quốc dân và sự biến đổi theo hướng ưu hoá của cơ cấu kinh tế quốc dân. Cũng vậy, sự nâng cao trình độ đô thị hoá, thích ứng với yêu cầu không gian của phát triển kinh tế quốc dân, đương nhiên cũng thúc đẩy sự tiến triển của cơ cấu kinh tế và sự phát triển của kinh tế quốc dân.

Xét từ mặt đời sống kinh tế thực tế, có rất nhiều nhân tố về lịch sử, địa lý và dân số ảnh hưởng đến đô thị hoá, nhưng ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế là có tính cơ bản. Phát triển kinh tế và ưu hoá cơ cấu kinh tế có tác dụng thúc đẩy mang tính cơ bản của sự vận động đô thị hoá hiện đại, từ đó cấu thành lực lượng cơ chế chung của đô thị hoá hiện đại.