Phi kinh tế ngoại vi và đối sách của nó

Phi ngoại vi“>kinh tế ngoại vi và đối sách của nó

Đặc điểm của đô thị là sự tập trung cao độ dân số, hoạt động sản xuất và hoạt động tiêu dùng trong một khu vực hạn chế nhất định. Vì vậy, một nguyên nhân quan trọng làm cho vấn đê môi trường đô thị trở nên đặc biệt nghiêm trọng là tính phi kinh tế ngoại vi. Phi kinh tế ngoại vi có thể là bất lợi đến từ ngoại vi mà doanh nghiệp hoặc cá nhân phâi gánh chịu, có thể là hành vi kinh tế chuyển nhứng tổn thất do mình gây ra cho người khác Trong kinh tế môi trường, phi kinh tế ngoại vi chỉ ảnh hưởng bất lợi ngoại vi do người gây ra ô nhiễm tạo ra, nhưng họ không chịu cóc khoản chi phí để khắc phục, mà chuyển sang cho xã hội hoặc các gia đình xung quanh. Chi phí ngoại vi môi trường là một vấn đề rất khó giải quyết, vì rằng một mặt, nó không có quan hệ với cơ chế thị trường, vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát của các ngành, các doanh nghiệp, tuy ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt hoạt động của đô thị nhưng lại không có quan hệ trực tiếp với chúng; mặt khác, đây chi là khoản chí phí phụ, do sự hoạt động thường xuyên trong sản xuất và sinh hoạt của loài người gây ra một cách vô ý thức.

Phi kinh tế ngoại vi có thê tạo thành bởi các chất thải của các nhà máy, công xưởng, cũng có thể do người tiêu dùng tạo ra bằng việc tuỳ tiện vứt bỏ chai lọ, phân rác … Trong đó, tác nhân chủ yếu của phi kinh tế ngoại vi là ô nhiễm môi trường do các nhà máy, công xưởng gây ra. Nguyên nhân của tình hình này có hai mặt. Một mặt, tài nguyên môi trường với tính cách là của cải xã hội, không có quan hệ lợi ích vật chất trực tiếp với các tập

đoàn xã hội hoặc cá nhân nhà kinh doanh. Trong tài nguyên môi trường có một bộ phận như khí quyển, sông ngòi, cảnh quan tự nhiên, sự yên tĩnh, nó khác với của cải xã hội chỉ do một tập đoàn sử dụng một cách cố định, mà có thể do nhiều người cùng sử dụng. Đặc điểm này của tài nguyên môi trường làm cho người sử dụng nó lâu nay không phải bồi thường, bất chấp hiệu quả. »Thí dụ các doanh nghiệp tuỳ tiện sử dụng tài nguyên nước, tuỳ tiện đổ chất thải xuống sông hồ mà không chịu trách nhiệm kinh tế nào cả, vì tài nguyên nước có bị huỷ hoại hay không, điều đó không có quan hệ mật thiết với một doanh nghiệp nào đó, dù có gây ra tổn thất thì phần nhiều là làm hại người khác. Mặt khác, tính không bồi thường trực tiếp của dầu tư trị chứa môi trường làm cho người gây ô nhiễm không có động cơ kinh tế về trị chứa ô nhiễm. Trị chữa ô nhiễm đòi hỏi phải chi tiền, cần đàu tư mua sắm máy móc, thiết bị, thiết kế thi công và một số nhân lực tương ứng. Trị chữa ô nhiễm sẽ mang lại lợi ích xã hội, nhưng khoản tiền chi ra không được người trực tiếp gây ra ô nhiễm bồi thường. Ví như doanh nghiệp thải ra CƠ2, việc trị chữa khí thải CO2 của doanh nghiệp không nghi ngờ sẽ nâng cao giá thành sản phẩm và giảm thiểu mức lợi nhuận của nó, nhưng việc có ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng sản phẩm mà nó sản xuất ra hay không thì là một vấn đề cần được xem xét một cách cụ thể. Trong hạch toán kinh tế của doanh nghiệp biểu hiện ra: người trị chữa ô nhiễm bị thiệt hại, người không trị chứa ô nhiễm được lợi, do vậy doanh nghiệp không tích cực trị chữa ô nhiễm.

Xét về mặt đạo lý, các doanh nghiệp vứt bỏ chất ô nhiễm vào không khí và xuống sông hồ, gây ra ô nhiễm môi trường, huỷ hoại tài nguyên môi trường, cần chịu trách nhiệm kinh tế về bồi thường thiệt hại cho việc trị chữa ô nhiễm môi trường và khôi phục tài nguyên môi trường, không thể chuyển thiệt hại đó cho xã hội, bắt người khác phải gánh chịu. Điều này đòi hỏi phải áp dụng biện pháp kinh tế, quán triệt nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về trị chứa ô nhiễm do mình gây ra. Đối với các nhà máy, công xưởng tuỳ tiện vứt bỏ vào môi trường chất ô nhiễm, cần tổ chức theo dõi và tiến hành thu lệ phí về vứt bỏ chất ô nhiễm, nhằm dê cao trách nhiệm kinh tế của họ đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường đô thị. Cách làm này có lợi cho việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với bảo vệ môi trường, gắn liền bảo vệ môi trường với lợi ích vật chất của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ, sử dụng tổng hợp các loại tài nguyên, tích cực trị chứa ô nhiễm, do đó mà cải thiện chất lượng môi trường của khu vực đô thị, giảm thiểu phi kinh tế ngoại vi.

Cãn cứ để thu lệ phí về vứt bỏ chất ô nhiễm là tiêu chuẩn môi trường với tính cách là những chuẩn mực giới hạn cho phép, được Nhà nước qui định dùng làm con số đế quản lý môi trường. Khi xây dựng tiêu chuẩn môi trường cần kết hợp tính tiên tiến về công nghệ với tính hiệu quả về kinh tế, xuất phát từ quan điểm của kinh tế môi trường, nên coi chất lượng môi trường là một loại hàng hoá, thì để có được hàng hoá này, xá hội phải đầu tư một số lượng nhất định tài nguyên, điều này cũng giống như việc sản xuất bất kỳ một loại sản phẩm nào, cần tuân theo nguyên tác cơ bản là kết quả lớn hơn chi phí, tìm ra mức ô nhiễm tối ưu về mặt kinh tế. ơ đây, nhiệm vụ cơ bản của việc phân tích các mặt lợi hại của môi trường là tìm ra nồng độ cho phép của chất ô nhiễm trong môi trường vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường sinh thái, vừa làm cho chi phí phòng chứa ô nhiễm môi trường là nhỏ nhất.

Giảm thiểu phi kinh tế ngoại vi có thể thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau. Trước hết, cần phâri bố hợp lý lực lượng sản xuất trong đô thị, chuyển ra khỏi nội thành các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm. Sau nữa, cần thay đổi kết cấu nguồn năng lượng cung cấp cho đô thị theo hướng giảm cung cấp than củi, tăng cung cấp điện, khí đốt … Đồng thời, cần tăng cường xây dựng và hoàn thiện kết cấu thị chính để phòng chữa ô nhiễm do giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, hoạt động công thương và sinh hoạt dân cư gây ra. Giảm thiểu phi kinh tế ngoại vi cũng có nghĩa là nâng cao dung lượng môi trường. Hiện nay nhiều quốc gia đều thông qua qui hoạch môi trường đô thị để xanh hóa đô thị, xây dựng các lâm viên cây xanh trong đô thị. Điều này không chỉ có thể làm đẹp môi trường, sạch hoá không khí, điều hoà khí hậu, giảm thiểu tiếng ồn, ô nhiễm, mà còn có tác dụng cung cấp nơi vui chơi giải trí cho nhân loại, phát triển thế lực và trí lực của con người, dồng thời cung cấp nơi trú ẩn, lánh nạn cho các động vật hoang dã.

Một khó khăn lớn của việc bảo vệ môi trường sinh thái đô thị nước ta hiện nay là tinh trạng tập trung quá mức dân số và hoạt động kinh tế vào khu vực trung tâm của các đô thị,-đặc biệt là các quận nội thành của các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Năng … Để kh3c phục, cần có một chiến lược phát triển đô thị lâu dài trên phạm vi cả nước, trong đó có qui hoạch sử dụng tổng hợp vị trí sinh thái của các khu vực đô thị hiện có V và qui hoạch xây dựng các khu đô thị đối trọng mđi có sức thu hút việc giản dân và giãn hoạt động kinh tế từ các trung tâm thành phố lớn.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng