Phương hướng phát triển nhà ở đô thị (P1)

Phương hướng phát triển nhà ở đô thị

a. Nhu cầu nhà ở tại các đô thị

Cũng giống như các công tác cách mạng khác, phát triển nhà đô thị là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Trong tình hình mới, Nhà nước chủ trương xoá bỏ chế độ bao cấp về nhà cho những người làm công ăn lương nhà nước, chuyên từ nỗ lực cung cấp nhà cho công nhân viên chức nhà nước sang tạo điều kiện cho mọi người dân tự chăm lo lấy nhà phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình, họ có thể thuê nhà, mua nhà hoặc xây dựng lấy nhà ở theo qui hoạch phát triển nhà đô thị.

Vai trò của nhà ở đô thị trong đời sống kinh tế – xá hội đô thị và yêu cầu giải quyết những vấn đê tồn tại của nhà ở nước ta hiện nay, đêu đỏi hòi phải xác định hợp lý phương hướng phát triển nhà ở đô thị, duy trì qui mô và tốc độ phát triển nhà đô thị với một tỷ lệ thích đáng. Phương hướng phát triển nhà đô thị cần bám sát phương hướng phát triển đất nước nói chung và phương hướng phát triển các khu vực đô thị nói riêng, bảo đảm song song với sự phát triển sản xuất và cải thiện đời sống đô thị, tổng cung nhà ở đô thị phải không ngừng ăn khớp vđi tổng cầu nhà đô thị.

Muốn có phương hướng phát triển nhà đô thị hợp lý, phải bắt dầu từ việc phân tích nhu cầu của nhà đô thị. Như mọi người đều biết, nhu cầu nhà tại các đô thị bao gồm nhiều loại là: Nhu cầu nhà cho số dân tăng tự nhiên và tăng cơ học; nhu cầu nhà cho những hộ chưa có nhà, đang phải chung, nhở, hoặc sống tạm bợ tại những khu ổ chuột; nhu cầu nới thêm diện tích ở cho những hộ đang sống quá chật; nhu cầu nhà ở cho những người nước ngoài đến nước ta làm việc hoặc kinh doanh …. Nhu cầu nhà đô thị rất đa dạng vì dân cư đô thị làm nhiều nghề rất khác nhau với thu nhập rất chênh lệch. Tính đa dạng này đòi hỏi phải được xem xét kỹ lưỡng khi xác định qui mô và tô’c độ xây dựng nhà ở đô thị.

Nói chung, tổng cầu của nhà ở đô thị được quyết định bởi hai nhân tố chủ yếu:

Một là, dân số đô thị.

Nhà đô thị là một trong những điều kiện vật chất cơ bản cho sự sinh tồn và phát triển của dân cư đô thị, sự thay đổi dân số đô thị có liên quan mật thiết với lượng cầu nhà đô thị. Nói chung, dân số đô thị tăng tất sẽ dẫn đến tăng nhu cầu nhà đô thị và ngược lại.

Dân số đô thị tăng lên là do hai nguyên nhân: tăng tự nhiên và tăng cơ học.

Dân số đô thị tăng tự nhiên là số ròng giứa số người sinh ra, và số người chết đi. Việc đẩy mạnh công tác dân số – kế hoach hoá gia đình, hưđng vào mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, làm cho tỷ lệ sinh có xu hướng giảm; nhưng do đời sống nhân dân cải thiện và sự nghiệp y tế phát triển, mà tuổi thọ bình quân tăng lên và tỷ lệ chết giảm xuống. Vì vậy, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số đô thị nước ta vẫn còn cao, khoảng 1,5%.

Dân số đô thị tăng cơ học là số ròng giữa số dân chuyển vào đô thị với số dân rời khỏi đô thị trong một thời gian nhất định. Tăng cơ học dân số đô thị gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế. Song song với sự phát triển nền kinh tế quốc dân, trình độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước sẽ ngày càng nâng cao, dẫn đến tăng nhanh nhịp độ đô thị hoá, làm cho qui mô dân số đô thị tăng lên mau chóng, dồng thời nhiều đô thị mới được hình thành, thu hút một số lượng lđn dân cư nông thôn vào các đô thị.

Năm 1995, nước ta có trên 14 triệu người (20% dân số cả nước) sống trong 81 triệu m2 nhà tại các đô thị. Đến năm 2000, do tăng tự nhiên và tăng cơ học, dân số cả nước vào khoảng 81-82 triệu người, sẽ có khoảng 20,5 triệu người sống đô thị, chiếm 25% dân số cả nưđc. Để đáp ứng nhu cầu tối thiểu về nhà ở, quĩ nhà ở đô thị sẽ vào khoảng 164 triệu m2, tức tăng 83 triệu m2 so vđi năm 1995, tăng bình quân hàng năm 16%, bằng 20% quĩ nhà năm 1995.

Hai là,cơ cấu và khả năng thanh toán của dân cư đô thị.

Cơ cấu của dân cư đô thị ảnh hưởng đến nhu cầu nhà ở đô thị chủ yếu là cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tuổi tác và cơ cấu gia đình.

Cơ cấu nghề nghiệp của dân cư đô thị được phản ánh sự phân bố và tỷ lệ của số người tựu nghiệp đô thị làm các ngành nghề trong đô thị. Nói chung, mức độ nhu cầu của nhứng người lao động thuộc các ngành nghề đối với nhà đô thị là khác nhau, đặc biệt là nhà đô thị làm bằng vật liệu mới. Chẳng hạn, những người làm công tác khoa học, giáo dục, y tế, văn hoá, cán bộ lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng, các đơn vị hành chính sự nghiệp, do tính chất và đặc điểm công tác mà họ có nhu cầu nhà tương đối cao đối với nhà ở. Trái lại, nhu cầu đối với nhà của những người lao động phổ thông thì thường tương đối đơn giản.

Cơ cấu tuổi tác của dân cư đô thị phản ánh ở sự phân bố và tỷ lệ của các nhóm tuổi tác trong tổng số dân cư đô thị. Đại thể trong các đô thị có tỷ lệ người đến tuổi kết hôn lớn thì nhu cầu đối với nhà cũng lớn, trái lại, trong các đô thị có tỷ lệ người cao tuổi lớn thì nhu cầu đối với nhà ở thường nhỏ hơn.

Cơ cấu gia đình của dân cư đô thị cũng ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu nhà ở. Cơ cấu gia đình truyền thống ở các đô thị nước ta trước đây thường chung sống tới 3 – 4 thế hệ, gồm 7 – 8 người, thì nay đang có nhiều gia đình chỉ có 2 thế hệ chung sống, gồm 3-4 người. Sự phát triển của các gia đình ít người cũng sẽ làm tăng nhu cầu về nhà ờ.

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu nhà đô thị là khả năng thanh toán của dân cư đô thị để cải thiện điều kiện cư trú của mình. Trong điều kiện sản xuất phát triển, thu nhập của dân cư đô thị sẽ từng bước tăng lên thì nhu cầu của họ đối với nhà ở cũng tăng lên.

Trong khi xác định nhu cầu nhà ở của các thành phố lớn, vđi tính cách là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa mang tầm cỡ quốc gia hoặc khu vực như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh …. cần xem xét đầy đủ nhu cầu nhà ở của một số đối tượng đặc biệt là chuyên gia nước ngoài, là nhà khoa học, nhà văn hoá, là giới học sinh, sinh viên, là dân nghèo đô thị, là người nhập cư