Qui mô đô thị và giá thành tụ hội đô thị

qui mô đô thị và giá thành tụ hội đô thị

Khi khảo sát qui mô đô thị và hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị, ta không thể coi nhẹ nhân tố giá thành. Trên thực tế, song song vđi sự mở rộng đô thị, hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị và giá thành tụ hội đô thị đều tăng lên, chỉ có trong hạn mức đô thị nhất định, giá thành tụ hội đô thị mới tăng lên chậm chạp, làm cho tốc độ gia tàng của hiệu quả kinh tế tụ hội cao hơn nhiều so với giá thành tụ hội. Nếu qui mô đô thị quá lớn, giá thành tụ hội sẽ tăng lên nhanh chóng, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị.

Giá thành tụ hội đô thị chủ yếu có mấy loại sau:

a.giá thành ngoại vi

Nó chỉ ảnh hưởng phụ của hoạt động sản xuất hoặc sinh hoạt của một số doanh nghiệp hoặc gia đình gây ra đối với sản xuất hoặc sinh hoạt của một số doanh nghiệp hoặc gia đình khác. Giá thành ngoại vi cũng có xu hướng tăng trưởng song song với sự lớn lên của qui mô đô thị. Thí dụ về dân cư đô thị, sự lớn lên của qui mô đô thị thường làm cho nơi cư trú của dân cư cách xa nơi công tác của họ, tạo ra tình hình dân cư đi làm việc với cự li xa, điều này vô hình dung đã tăng thêm chi phí giao thông cá nhân; trình độ tụ hội dân số và hoạt động kinh tế của đô thị càng cao, sẽ gia tăng mức độ giao thông chen chúc ách tắc, kéo dài thời gian ngồi xe, đi đường của dân cư; đỏ thị càng lớn, tiếng ồn và ô nhiễm mà dân cư phải chịu đựng sẽ càng nghiêm trọng; giá đất và nhu cầu thuê nhà cũng tăng lên song song với việc mở rộng qui mô đô thị. Tất cả những cái đó đều là giá thành ngoại vi mà dân cư đô thị phải gánh chịu do việc gia tăng mức độ tụ hội dân số và doanh nghiệp trên địa bàn đô thị gây ra.

Về phía doanh nghiệp đô thị, doanh nghiệp đô thị không chỉ hưởng thụ lợi ích do qui mô dân số hoặc hoạt động kinh tế mang lại cho họ, đồng thời cũng gánh chịu giá thành ngoại vi doanh nghiệp được hình thành do qui mô tương đối lớn của đô thị. Chẳng hạn như, tăng giá đất sẽ dẫn đến tăng giá thành đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp; giao thông chen chúc, ách tắc ảnh hưởng đến hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp; chi phí xử lý ô nhiễm cũng phải chi ra nhiều hơn so với doanh nghiệp đóng trên địa bàn đô thị có qui mô tương đối nhỏ hơn. Trong điều kiện trạng thái môi trường tương đồng với đô thị trung bình, lượng đào thải của các nguồn ô nhiễm sẽ lớn, càng đê ra những yêu cầu và hạn chế nghiêm khắc, do vậy làm cho chi phí xử lý ô nhiễm của từng doanh nghiệp cũng nâng cao do nguyên nhân ngoại vi của đô thị tương đối lớn.

b. giá thành quá tải

Sự lđn lên của qui mô đô thị, sẽ dẫn đến sức chịu đựng của công trình đô thị và điều kiện sinh tồn đô thị dần dần trở nên bấo hoà, có trường hợp xuất hiện hiện tượng quá tải. Thí dụ: Trong mạng lưđi giao thông đô thị xảy ra tình trạng một số tuyến đường người, xe chen chúc quá mức, khó bảo đảm vận tải bình thường; lượng nưđc sử dụng và lượng nước thải ra của đô thị quá lớn, làm cho các công trình cấp nước, thoát nước hiện có của đô thị không thể đáp ứng nhu cầu; đất nội thành căng thẳng, không có nơi để xây dựng các công trình sử dụng cho dân cư hoặc cơ quan.

Qui mô đô thị là một đại lượng gia tăng và biến đổi. Các công trình đô thị và điêu kiện sinh tồn đô thị cần không ngừng cải thiện cho thích ứng với sự biến đổi của qui mô đô thị. Để khắc phục có hiệu quả các mâu thuẫn này, cần phải không ngừng tăng thêm đầu tư. Đầu tư tiểu ngạch chỉ có thể giải quyết nhiệm vụ một cách chắp vá; khi đầu tư tiểu ngạch không đủ sức giúp cho việc khắc phục tình trạng quá tải của công trình đô thị và điều kiện sinh tồn của đô thị, thì cần phải có một lần dầu tư lớn. Loại đầu tư Iđn này sẽ cấu thành giá thành quá tải do sự lớn lên của qui mô đô thị gây ra. Giá thành chi ra quá tải vượt quá sự phát triển kinh tế xã hội của đô thị và sự lđn lên của qui mô đô thị, thường cổ thể được bù đắp bằng hiệu quả sau khi khắc phục sự hạn chế quá tải. Tuy vậy, giá thành quá tải vẫn là một nội dung quan trọng của giá thành tụ hội đô thị.

c. giá thành di chuyển

Giá thành di chuyển của một đô thị là tổng số các chi phí, tổn thất hoặc giá thành do việc di chuyển dân cư hoặc doanh nghiệp ra khỏi đô thị đó gây ra. Nó bao gồm chi phí di chuyển của bản thân dân cư và doanh nghiệp và chi phí cơ hội chi cho việc di chuyển ra khỏi đô thị đó, còn bao Igbm giá thành mà chính quyền địa phương hoặc chính phủ trung ương chi ra để tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển dân cư và doanh nghiệp.

Song song với sự mở rộng qui mô đô thị, ngoại ô hoá cúng trở thành sự bổ sung tự nhiên của đô thị hoá. Tại các nước phát triển, do sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn và giứa các đô thị tương đối nhỏ, do sự di động dân cư và doanh nghiệp giữa thành thị và nông thôn và giữa các đô thị cũng chịu sự chi phối của qui mô kinh tế tự nhiên, nên ngoại ô hoá đá trở thành hiện tượng được phổ biến rộng rãi. Còn tại các nước đang phát triển, do có sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn và giữa các đô thị, có nhiều nhân tố hạn chế sự lưu động tự do của nhân lực và tài nguyên, nên hiện tượng ngoại ô hoá của các đô thị lớn còn chưa rõ ràng, ơ Việt Nam, các hình thái ngoại ô hoá đã bắt dầu nảy nở, ví dụ một số doanh nghiệp có mức ô nhiễm cao, tiêng ồn lớn, diện tích đất sử dụng lớn, hao phí tài nguyên cao, được chuyển ra ngoại ô; xây dựng các đô thị vệ tinh để phân giải dân số và khuyếch tán công nghiệp của đô thị lớn; sự căng thẳng của đất và nhà ở trung tâm đô thị, làm tăng mật độ dân cư vùng ngoại ô. Dân số và doanh nghiệp từ trung tâm thành phố lđn chuyển ra ngoại ô hoặc đô thị vệ tinh, chủ yếu do sự lớn lên từng bước của qui mô tụ hội đô thị dẫn đến, vì vậy nó cũng là một loại giá thành tụ hội đô thị. Qui mô đô thị càng lớn, giá thành di chuyển thường càng cao. Điều này càng biểu hiện rõ ràng ở các đô thị lớn, nhất là đô thị cực lđn.

Tóm lại, sự mở rộng qui mô đô thị, sự gia tăng mức độ tập trung dân số đô thị và hoạt động kinh tế đô thị, dẫn đến nâng cao hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị, đồng thời cũng làm tăng lợi ích xã hội. Mặt khác, nó cũng làm tăng giá thành tụ hội đồ thị. Mối quan hệ giữa qui mô đô thị vđi hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị và giá thành tụ hội đô thị là: Trong mức độ qui mô đô thị nhất định, sự gia tăng hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị nhanh hơn nhiều so vđi sự gia tăng giá thành tụ hội đô thị. Đương nhiên, khi qui mô đô thị vượt quá mức độ nhất định, giá thành tụ hội đô thị có thể tăng lên nhanh chóng, gây ra bất lợi cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị. Vì vậy, xét về mặt lý luận, vấn đề đặt ra là cần phải lựa chọn qui mô thích hợp của đô thị. Mối quan hệ trên có thể chứng minh bằng sơ đò sau:

 

Qui mô đô thị và giá thành tụ hội đô thị 1

Mối quan hệ giữa qui mô đô thị với hiệu quả kinh tế tụ hội đô thị và giá thành tụ hội đô thị