Số đo sự tăng trưởng kinh tế đô thị

Số đo sự tăng trưởng kinh tế đô thị

a. Số đo chung sự tăng trưởng kinh tế đô thị

Đo lường tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn dề có tính bản chất của việc phân tích kinh tế dô thị.

Mọi người đều biết, muốn tìm hiểu sự thật về một sự vật, chúng ta phải làm rõ mối quan hệ biến đổi về mặt số lượng của các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Về điểm này, các nhà kinh tế học Phương Tây đã làm được nhiều việc. Nhưng đây chúng ta còn xa mới có đủ điều kiện để tiến hành phân tích thuần tuý về mặt số lượng. Khó khăn của chủng ta là ở chỗ: Một là, đô thị với tính cách là một thực thể kinh tế mở cửa, có tính linh hoạt tương đối lđn về tài nguyên thiên nhiên, cung cấp vốn, di chuyển sức lao động và trao đổi sản phẩm, nên rất khó đo lường sự tăng trưởng kinh tế của nó bằng một mô hình đơn giản. Hai là, kinh tế qui mô và lợi ích của kinh tế tụ hội là đặc trưng của kinh tế đô thị, nhưng đến nay đây vẫn còn là các đại lượng chưa biết và không thể đo lường được.

Như trên đã nói, sự tăng trưởng của một nền kinh tế được biểu hiện ở sự gia tăng sản lượng hàng năm do riền kinh tế đó tạo ra. Vì vậy, số đo chung sự tăng trưởng kinh tế đô thị nói riêng và tăng trưởng kinh tế quốc dân nói chung thường bao gồm các đại lượng: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP), thu nhập quốc dân sản xuất (NI), thu nhập quốc dân sử dụng (NDI). Trong đó, GDP và GDP bình quân dầu người là số đo được áp dụng rộng rái nhất trong việc phân tích tàng trưởng kinh tế. GDP là đại lượng dùng để đo sản lượng ròng hay giá trị gia tăng của một nền kinh tế bằng cách đo lường hàng hoá và dịch vụ được mua bằng tiền, nó không tính phần sản lượng không được mua vào và bán ra.

GDP là một đại lượng được dùng để đo lưỡng sự tăng trưởng của kinh tế đô thị về hầu hết các mặt. Thí dụ: thông qua GDP để xác định vai trò về kinh tế của khu vực đô thị trong hệ thống kinh tế quốc dân, hiện nay khu vực đô thị nước ta với dân số chiếm 20% dân số cả nưđc đóng góp tới 40% GDP của cả nưđc; thông qua GDP bình quân đầu người hàng năm để phân tích nhịp độ tăng trưởng khác nhau giứa các đô thị, chẳng hạn thành phố Thanh Hoá với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 18% thì GDP bình quân đầu người sẽ tăng từ 475 USD năm 1995 lên trên 800 USD vào năm 2000^*, thành phố Huế vđi tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 8,5 – 9% thì GDP bình quân đầu người sẽ là 700 USD vào năm 2000 và 1500 USD vào năm 2010(2\

b. Số đo cụ thể sự tăng truởng kinh tế đô thị

SỐ đo sự tăng trưởng kinh tế là một vấn đề cốt lõi của kinh tế học lý luận. Số đo cụ thể sự tăng trưởng kinh tế hết sức đa dạng, tuỳ theo các mục đích khác nhau của sự phân tích mà sử dụng nhứng đại lượng khác nhau. Mọi người đều biết, tốc độ tàng trưởng của một riền kinh tế bất kỳ được biểu hiện bằng mức tàng phần trăm hàng năm sản lượng của nó, vì vậy, xét về mặt nguyên tắc, để đo lường sự tăng trưởng của kinh tế đô thị, chúng ta phải tiến hành phân tích mối quan hệ hàm số giữa mức sản lượng với các nhân tố chế ước nó. Sự phân tích của chúng ta bắt đầu từ hàm sản xuất quen biết, được biểu hiện dưđi dạng:

(1)   Đnh hướng xây dựng, phát triển kinh tế – xă hội thành phố Thanh Hoá từ năm 1996 đến năm 2000 và 2010.

(2)   Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xá hội thành phố Huế đến năm 2000.

Sản Iượng = f (vốn sản xuất, số lượng lao đông, tài nguyên thiên nhièn, kỹ thuật công nghệ)

Nhìn đẳng thức trên ta thấy: có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng, nhưng trong thực tiễn khi phân tích sự tăng trưởng kinh tế đô thị, người ta thường chú ý nhiều hơn nhân tô’ vốn sản xuất. Chủ yếu là:

–   Lượng tăng nhu câu và lượng tăng đầu tư. Sự gia tăng đầu tư được thực hiện thông qua hai hình thức: Một là nhu cầu hàng hoá trên thị trường kéo giá cả lên cao, nó trở thành tín hiệu chỉ đạo của việc dầu tư không đủ cho ngành đó, trong điều kiện sử dụng dầu tư còn chưa đầy đủ, có thể gia tăng đầu tư tự chủ (tự dầu tư của ngành, doanh nghiệp). Hai là, đàu tư tự chủ dẫn đến sự mở rộng cơ cấu nhu cầu của các ngành và các doanh nghiệp khác, phát sinh sự gia tăng đầu tư dẫn xuất. Quá trình vận doanh của toàn bộ cơ chế dàu tư là: Nhu càu chủ đạo – Đầu tư tự chủ …, Nhu cầu phát sinh – Đầu tư dẫn xuất …, hình thành một quá trình phát triển tuần hoàn, không ngừng lặp đi lặp lại. Vì vậy, lượng tăng nhu cầu và lượng tăng đầu tư là hàm số của nhau.

–  Hiệu suất công nghệ. Hiệu suất công nghệ ở đây đại diện cho sự ảnh hưởng lđn hay nhỏ của hình thái công nghệ và trình độ tiến bộ công nghệ kết tinh trong đầu tư đối với sự tăng trưởng kinh tế đô thị. Do đó, trong toàn bộ quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị, hiệu suất công nghệ không chỉ biểu hiện thành hệ số điều tiết của năng suất dầu tư mà còn trực tiếp là một yếu tố của tăng trưởng kinh tế. Thâm chí có trường hợp, tác dụng của nâng cao hiệu suất công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế đô thị, biểu hiện thành bội số của tác dụng nâng cao hiệu suất đầu tư.

–   Năng suất đầu tư cận biên và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đô thị. Đầu tư đô thị mang lại 3 loại hiệu quả trực tiếp: Sáng tạo sức sản xuất, tăng gia sản xuất và tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất. Mà sự biến đổi năng suất cận biên của dầu tư đô thị thì quyết định bởi hai nhân tố: Một là, sự biến đổi điều kiện tài nguyên và thị trường đô thị, đây là yếu tố sản xuất trực tiếp và là mặt có tính quyết định. Hai là, các nhân tố có liên quan với việc tổ chức, quản lý …, đầy là mặt hiệu quả xã hội của đầu tư và tác dụng của nhân tố chính sách. Vì vậy, xét về bản chất thì năng suất đầu tư cận biên có thể tạo ra tiềm lực cho tăng trưởng kinh tế dô thị, xu thế, mô thức đầu tư và hiệu suất công nghệ có ảnh hưởng to lớn đối với sự gia tăng sức sản xuất của đô thị.

–   Sự tổn thất của sức sản xuất đàu tư. Nguyên nhân gây ra sự tổn thất này là: (■*) Sự hạn chế của việc cung cấp các yếu tố phi vốn. Tài nguyên thiên nhiên, sức lao động; (2) Sự tổn thất của việc thay thế đầu tư – lợi ích cơ hội; (3) Sự tổn thất của việc cung cấp dồng bộ vốn (vốn tiền tệ, vốn hàng hoá) hoặc là sự tổn thất của việc đàu tư sai lầm do cơ chế điều phối đầu tư buông lỏng gây ra. Sự biến đổi của nhu cầu thị trường cũng có thể làm cho qui mô và cơ cấu đầu tư đã được hình thành không thể hoàn toàn thích ứng với sự biến đổi đó, dẫn đến giảm thiểu tỷ suất hiện thực của năng suất đầu tư. Mặc dù như vậy, đây vẫn coi các loại tổn thất nói trên là một hiện tượng không bình thường, mà thực ra hiện nay vẫn chưa có cách đê’ tính toán chuẩn xác.

–   Hiệu quả ngoại vi và tài chinh công cộng. Hiệu quả ngoại vi có nghĩa là đô thị cho phép người đầu tư khi đề ra quyết sách có thể xem nhẹ sự chênh lệch giữa hiệu quả xã hội với hiệu quả doanh nghiệp. Hiệu quả ngoại vi có thể là một loại lợi ích hoặc là một loại giá thành, vì vậy về mặt lý luận nó được chia ra thành: ngoại vi tích cực (positive externalitis) và ngoại vi tiêu cực (negative externalitis). Đặc tính của hiệu quả ngoại vi do hoạt động đấu tư của doanh nghiệp trực tiếp gây ra, nhưng xã hội lại hưởng thụ thành quả hoặc gánh chịu toàn bộ hậu quả. ơ đây, tài chính công cộng đô thị giữ vai trò quyết định, sự điều tiết của chính sách cũng có tác dụng tương đối lớn.