Sự cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị (P2)

b. Những vấn đề tn tại của cơ cấu các ngành kinh tế đô thị nước ta

Việt Nam là một nước đang phát triển, trong hơn một thập kỷ đổi mđi và mở cửa của nước ta, đô thị hoá và phát triển kinh tế đô thị đã diễn ra với nhịp độ tương đối nhanh, vị trí của đô thị trong nền kinh tế quốc dân ngày càng rõ ràng. Khu vực đô thị nưđc ta hiện nay với diện tích chiếm đất bằng 3,3% diện tích đất tự nhiên của cả nước, dân số bằng 20% dân số của cả nước, đá đóng góp 40% và GDP của cả nước. Tuy nhiên, cơ cấu các ngành kinh tế đô thị nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều vấn dè gay cấn, mâu thuẫn với yêu cầu của đổi mđi công nghệ. Đó là:

Thứ nhất, cơ cấu công nghiệp của đô thị vẫn dừng giai đoạn lấy các ngành công nghiệp truyền thống làm chủ, như cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt, vật liệu xây dựng … Đây là, nhứng ngành tiêu hao nhiều năng lượng, nước, nguvên liêu, sản phẩm có thể tích lớn, chiếm dụng nhiều đất đô thị và phương tiện vận tải, làm cho môi trường sinh thái đô thị bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Thứ hai, máy móc thiết bị của các ngành công nghiệp cũ kỹ lạc hậu. Máy móc thiết bị sử dụng trong các ngành công nghiệp của một số lđn các đô thị nước ta, bao gòm cả các thành phố lớn Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, đại bộ phận được trang bị từ các niên đại 60, 70, thậm chí có một bộ phận được trang bị từ nhứng năm 30, 40 thời Pháp thuộc. Do vậy, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra không chỉ giá thành cao mà chất lượng cúng còn nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Thứ ba, trong toàn bộ các ngành kinh tế đô thị, đại đa số là các ngành thâm -canh sức lao động và thâm canh vốn, tỷ trọng các ngành thâm canh chất xám còn rất thấp. Trong cơ cấu các ngành kinh tế của các thành phố lớn nước ta, tỷ lệ các loại hình thâm canh sức lao động, loại hình thâm canh vốn và loại hình thâm canh chất xám đại thể khoảng 5: 5: 1, thấp hơn so với các thành phố lớn của Trung Quốc là 4: 4 : 1. Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cơ cấu các ngành kinh tế đô thị không thể thoát khỏi các ngành truyền thống, làm chậm tốc độ nâng cao hiệu quả kinh tế của việc phát triển kinh tế đô thị.

Thứ tư, cơ cấu các ngành kinh tế của hầu hết các đô thị đều là loại hình khép kín, trình độ phân công chuyên môn hoá giữa các đô thị còn thấp, sức bổ sung cho nhau còn thấp. Do sự hạn chê’ của cơ chế quản ỉý cũ, cơ cấu công nghiệp của các đô thị đều hình thành một hệ thống lớn hoàn chỉnh. Chẳng hạn, thành phố nào cũng có điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng, thực phẩm, dệt, da, may. Tình trạng sản xuất trùng chéo là nguyên nhân trọng yếu gây ra lãng phí các nguồn tài nguyên, hiệu quả kinh tế thấp và công nghệ chậm được đổi mới.

Thứ năm, trong cơ cấu các ngành kinh tế đô thị, sự phát triển của các ngành kinh tế thuộc khu vực thứ ba còn chậm, tỷ lệ còn thấp. Căn cứ vào số liệu thống kê tình hình phát triển kinh tế đô thị của nhiều quô’c gia trên thế giới, tỷ lệ giá trị do khu vực kinh tế thứ ba tạo ra nên đạt khoảng 50 – 60% GDP, trong khi đó của nước ta mới chỉ đạt khoảng 20 – 30%. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm cho thu nhập bình quân dầu người của các đô thị chỉ có thể được tăng lên một cách khiêm tốn, ví như cao nhất là thành phố Hồ Chí Minh cúng mứi đạt trên 1000 USD/người, tầm tàm là thành phố Thanh Hoá thì mới đạt trên 400 USD/người.