Sự ra đời và phát triển của kinh tế học đô thị

Sự ra đời và phát triển của kinh tế học đô thị

Đô thị vốn từ xa xưa đả có. Việc nghiên cứu vấn đê đô thị và kinh tế đô thị cũng đã có từ xa xua. Thí dụ ngay trong thời kỳ cổ đại, nhà triết học cổ Hy Lạp Plato (428-328 trưđc CN) đá đê ra qui mô dân số của một thành phố nhà nước lý tưởng là 5040 người. Nhưng đỏ thị khi đo còn rất không phát triển, nên còn chưa bàn đến việc nghiên cứu hệ thống đô thị, càng chưa bàn đến kinh tế học đô thị. Đô thị cận đại là sản phẩm của xã hội TBCN sau cuộc cách mạng công nghiệp Tân thứ nhất. Kinh tế học đô thị trước hết cũng ra đời và phát triển ở các nước TBCN. Đối với nước ta hiện nay sự nghiên cứu lịch sử học thuyết của quá trình này còn rất không đầy đủ. Dưới đây chúng tôi chỉ có thể căn cứ vào một số tài liệu rất có hạn, đế tiến hành mô tả một cách đại thể quả trình ra đời và phát triển của kinh tế học đô thị.

Ở Phương Tây, kinh tế học đô thị ra đời từ khi nào? Nhà kinh tế học đô thị nước Anh K.J. Batơn cho ràng có thế vào niên đại 20 thế kỷ 19. Đương nhiên, ý kiến của K.J. Batơn không phải nói khi đó đã xây dựng môn kinh tế học đô thị, cũng không phải nói trước đó chưa có việc nghiên cứu vấn đê kinh tế đô thị, mà chỉ là nói khi đó đã bắt đầu nghiên cứu tương đối nhiều đối với vấn đề kinh tế đô thị hiện đại, hơn nữa đặt một số nền móng nào đó cho việc xây dựng môn kinh học đô thị sau này. Sự suy doán của Batơn chí ít cũng có 2 căn cứ:

Thứ nhất, xét từ bối cảnh lich sử. Vào thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra trước tiên ở nước Anh, bắt đâu quá trình công nghiệp hoá và, dồng hành với quá trình công nghiệp hoá là quá trình đô thị hoá. Đô thị hoá khiến cho đô thị được phát triển với qui mô và tốc độ chưa từng thấy, hơn nữa thay đổi phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt của đô thị trước đó. Đến niên đại 50 của thế kỷ XIX, tỷ trọng dân số đô thị nước Anh trong dân số toàn quốc đã bắt dâu vượt quá tỷ trọng dân Snông thôn. Sau thế kỷ XIX, các nước Pháp, Đức, Mỹ cũng liên tiếp hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp, bắt dâu quá trình đô thị hoá Do vây niên đại 20 của thế kỷ XIX đúng là thời kỳ phát triển to lớn đô thị của các nước TBCN Âu Mỹ chủ yếu. Trong tình hình đó, các học giả Phương Tây quan tâm nghiên cứu vấn dê đô thị và kinh tế đô thị là một nhu cầu khách quan.

Thứ hai, niên đại 20 thế kỷ XIX là thời kỳ mà các học giả Phương Tây nghiên cứu vấn dê kinh tế đô thị cận đại tương đối nhiều so với trước kia. Xét từ nội dung nghiên cứu của thời kỳ này, chủ yếu là từ góc độ kinh tế học để nghiên cứu vấn dê đất đô thị . Đất đô thị là tải thể của dân số và các hoạt động kinh tế, xá hội đô thị dựa vào đó để tồn tại, nó có quan hệ vô cùng mật thiết với sự phát triển kinh tế đô thị. Nhất là một số lớn dân số, cống trình kiến trúc và hoạt động kinh tế cùng tụ hội trên không gian có hạn của đô thị, sử dụng

và bố trí hợp lý cơ cấu đất đai trở nên cực kỳ quan trọng. Vì vậy, khi đó các học giả Phương Tây đặc biệt chú ý nghiên cứu vấn đề sử dụng hợp lý đất đai và kết cấu không gian đô thị là rất tự nhiên. Xem xét vị trí đặc biệt quan trọng của vấn đê đất đô thị trong kinh tế học đô thị Phương Tây, và thành quả nghiên cứu của thời kỳ này trở thành nguồn gốc lý luận của kinh tế học đô thị Phương Tây sau này, có thế xem niên đại 20 thế kỷ XIX là thời kỳ quan trọng trong quá trình hình thành kinh tế học đô thị Phương Tây.

Kinh tế học đô thị với tính cách là một khoa học được phân nhánh ra thành một môn kinh tế học độc lập, đó là công việc của niên đại 60 thế kỷ XX. Sau Thế chiến II, các nước TBCN Phương Tây có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật, sự phát triển to lớn về lực lượng sản xuất và sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế. Do sự nâng cao rất lớn của năng suất lao động nông nghiệp, phân ly ra một số lượng lớn sức lao động dư thừa; lại do sự khôi phục nhanh chóng của công nghiệp, sự ra đời của các ngành sản xuất mới và sự phát triển bùng nô của ngành sản xuất thứ ba đòi hỏi một số lượng lớn sức lao động, điều này làm cho một số lượng lớn dân số nông thôn chuyển vào đô thị. Đô thị hoá được phát triển đi lên với qui mô càng lớn và tốc độ càng nhanh so với trước đó. Không chỉ trình độ đô thị hoá có sự nâng cao rất lớn, mà điều khiến người ta đặc biệt chú ý là sự tăng trưởng rất là nhanh chóng của số lượng đô thị lớn và dân số đô thị. Năm 1900, các nước phát triển mới có 3 đô thị lớn với dân số 39 triệu người, năm 1950 tăng lên 120 đô thị lớn với dân số 171 triệu người, năm 1970 tăng mạnh mẽ tới 193 đô thị lớn với dân số 300 triệu người.

Sự phát triển mới của đô thị hoá sau chiến tranh là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, mà cũng là tiêu chí đánh dấu sự tiến bộ, phồn vinh và vãn minh hơn nữa của xã hội. Nhưng nó cũng mang lại hàng loạt vấn đê mới . Trong đó, nổi cộm nhất là “Bệnh đô thị”, tức là các vấn đê nghiêm trọng do sự gia tăng mạnh số lượng đô thị lớn và dân số đô thị gây ra: suy thoái môi trường sinh thái, chen chúc giao thông, căng thẳng nhà ở, giá đất tăng vọt, tỷ lệ tội phạm gia tàng. Những cái đó làm gay gắt thêm mâu thuẫn kinh tế và xã hội của các nước TBCN, gây trở ngại cho sự phát triển hơn nứa hiện đại hóa và lực lượng sản xuất của đô thị. Điều này đã thúc đẩy nhiều chuyên gia, học giả từ nhứng góc độ khác nhau của các ngành khoa học về kinh tế học, dân số học, xã hội học, địa lý học, sinh thái học, qui hoạch học đô thị để tìm kiếm nguyên nhân sản sinh các vấn đề đô thị và giải pháp. Kinh tế học đô thị được hình thành và phát triển trên cơ sở nghiên cứu kinh tế học số lớn và hệ thống. Tiêu chí quan trọng đánh dấu sự ra đời của ngành khoa học độc lập này là việc xuất bản liên tục hàng loạt sách giáo khoa và tài liệu chuyên khảo về kinh tế học đô thị của các tác giả Phương Tây, nhất là của các tác giả người Mỹ(1).

Đối với Việt Nam, do sản xuất hàng hoá rất kém phát triển và phải trải qua một thời gian chiến tranh lâu dài, nên đô thị hoá phát triển vô cùng chậm chạp và phiến

(D- David w. Rasmussen Urban Economics Harper & Row Publishers, Inc, New York, 1983. – Arthur O’ Sullivan – Urban Economics – Irwin, Chicago, 1996.

diện. Từ năm 1975 trở vê trước, hệ thống đô thị miên Bắc được phát triển trên cơ sở công nghiệp hoá XHCN, tiêu biểu là các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Việt Trì…, Hệ thống đô thị miền Nam phát triển nhằm phục vụ nhu cầu của bộ máy chiến tranh xâm lược, điển hình là các thành phố Sài Gòn, Đà Nẩng… Từ sau ngày thống nhất nước nhà, hệ thống đô thị hai miền Nam – Bắc từng bước được phát triển theo kế hoạch thống nhất, đặc biệt từ sau Đại hội VI (1986) trở lại đây, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đá làm cho nền kinh tế – xã hội nước ta có nhiều khởi sắc, do đó gia tăng nhịp độ công nghiệp hoá và đô thị hoá. Hệ thống đô thị nưđc ta tính đến năm 1997 gồm 569 đô thị lớn nhỏ. Trong đó, có 23 thành phố, gồm 3 thành phố loại một, 5 thành phố loại hai và 15 thành phố loại ba.

Việt Nam cũng tương tự với các nước khác trên thế giới đô thị hoá càng đẩy mạnh thì “Bệnh đô thị” cũng ngày càng trầm trọng, nó đòi hỏi các nhà quản lý, các chuyên gia và học giả phải quan tâm nghiên cứu giải quyết. Chính phủ và Bộ xây dựng đã ra nhiều văn bản về phát triển và quản lý đô thị, hội nghị đô thị toàn quốc đã triệu tập hai lần vào các năm 1991 và 1995, trên đài báo ngày càng có nhiều bài phản ánh tình hình, phân tích nguyên nhân và đề ra giải pháp cho các vấn đê giao thông đô thị, môi trường đô thị, đất đô thị, nhà đô thị… Quy hoạch đô thị là một đê tài được các trường đại học và các viện khoa học quan tâm trước hết. Trường đại học Kiến trúc Hà Nội xuất bản giáo trình “Quy hoạch xây dựng đô thị” hai tập vào các năm 1982 và 1991 và cuốn “Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị” vào năm 1997.

Điều đặc biệt quan trọng là cũng vào năm 1997, Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cho xuất bản cuốn “Quy hoạch các đô thị Việt Nam và những dự án phát triển đến sau năm 2000” của tập thể các chuyên viên kinh tế, kỹ thuật, các kiến trúc sư thuộc: Uỷ ban nhân dân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Công nghiệp, các Viện Quy hoạch đô thị nông thôn, Văn phòng Kiến trúc sư trưởng các tỉnh, thành phố; Viện Quy hoạch đô thị nông thôn, Công ty Tư vấn xây dựng tổng hợp thuộc Bộ Xây dựng; các vụ, viện thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Công trình khoa học tập thể này bao gòm ba phần: Phần thứ nhất, phân tích mối quan hệ gắn bó giứa phát triển kinh tế, xã hội với phát triển đô thị; những định hướng, mục tiêu chủ yếu vê cải tạo và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đến năm 2000, chiến lược phát triển đồ thị Việt Nam thời kỳ 1996-2020. Phần thứ hai, trình bày tóm tắt định hướng quy hoạch phát triển các đô thị Việt Nam, bao gồm 23 thành phố từ loại một đến loại ba trong đó có các thành phố mới: Vạn Tường (Quảng Ngãi), Nhân Trạch (Đồng Nai), Thủ Thiên (thành phố Hồ Chí Minh). Phần thứ ba, giới thiệu danh mục các dự án phát triển của các tỉnh,các thành phố đến sau năm 2000; đồng thời giới thiệu nội dung các dự án thuộc các lĩnh vực kết cấu hạ tầng đô thị về điện, nước, giao thông, nhà ở, thương mại, du lịch, dịch vụ…. của các chủ dầu tư đã, đang và sẽ được triển khai từ nay đến sau năm 2000.