Thực trạng đô thị nước ta

Thực trạng đô thị nước ta

Những kết quả đã đạt đuc

Từ sau ngày thống nhất nước nhà, nhất là từ sau Đại hội VI (1986) đến nay, đô thị nước ta có bước phát triển mới khá mạnh mẽ. Sự phát triển đô thị diễn ra mức độ khác nhau ở hầu hết các đô thị, thế hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, dân số đô thị năm 1995 đã là 13,281 triệu người, chiếm 20% dân số cả nước, dự tính đến năm 2000 sẽ là 20,5 triệu người, chiếm 25% dân số cả nước. Khách vãng lai vào đô thị cũng tăng nhiều, kể cả khách trong nước và ngoài nước. Nhiều đô thị được nâng loại: Đến năm 1997 có 3 thành phố loại một, 5 thành phố loại hai và 13 thành phô’ loại ba [21].

Thứ hai, do công nghiệp và dịch vụ phát triển, đô thị đã góp phần quan trọng vào việc tăng tổng GDP của cả nước, tỷ trọng GDP do khu vực đô thị tạo ra trong tổng GDP của cả nước chiếm xấp xỉ 40% năm 1995 và sẽ chiếm trên 51% năm 2000, GDP bình quân đầu người tại các thành phố lớn đạt khoảng 700 – 900 USD, tại các thành phố loại hai, loại ba đạt khoảng 400 – 600USD.

Thứ ba, khối lượng xây dựng của đô thị tăng rất nhanh, nhất là xây dựng nhà ở, chợ, nhà hàng, khách sạn, văn phòng. Các đô thị bị phá hoại trong chiến tranh biên giới đã được xây dựng lại đàng hoàng hơn. Các thị xã được trở thành tỉnh lỵ của các tỉnh mới tách ra cũng được phát triển nhanh chóng.

Thứ tư, tiêu thụ điện năng tăng mạnh nhờ có thuỷ điện sông Đà và đường dây 500 kV. Chiếu sáng công cộng được chú ý hơn và có nhiều tiến bộ. Hệ thống giao thông và cung cấp nước máy được cải thiện một bước. Mạng lưới thông tin trong nước và quốc tế được mở rộng, các đô thị đêu C.Ó truyền hình. Những nguyên nhân làm cho hệ thống đô thị nước ta được phát triển tương đối mạnh mẽ là:

–   Chính sách kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, đòi hỏi phải có các trung tâm giao dịch hàng hoá và cung cấp dịch vụ.

–    Chính sách mở cửa đã thu hút được vốn nước ngoài đầu tư vào công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy công tác xây dựng phát triển và tạo thêm việc làm; quan hệ với các nước láng giềng được cải thiện, nên các đô thị biên giới được khôi phục và phát triển nhanh; một số đô thị được nâng cấp khi trở thành tỉnh lỵ mới.

–   Chính sách mới về nhà tạo điều kiện cho nhân dân tự lo lấy nhà ở của mình, huy động được vốn khá lớn của nhân dân vào phát triển nhà ở.

–    Nhà nưđc trong điều kiện nguồn lực có hạn, đã cố gắng tập trung dầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của đô thị, đặc biệt là các hệ thống năng lượng, giao thông, bưu chính viễn thông, cung cấp nước sạch.

–   Sự phát triển nhiều mặt của hệ thống đô thị trong thời gian qua đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân và trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nhà nước đã ra nhiều luật lệ và văn bản nhằm tăng cường quản lý đô thị như Pháp lệnh nhà ở 1991, Luật đất đai sửa đổi 1993. Đến nay, tất cả các thành phố dêu đả có qui hoạch tổng thể và qui hoạch chi tiết, hầu hết các thị xã đã có qui hoạch tổng thể. Tài chính đô thị trở nên ngày càng quan trọng, một số đô thị được coi là cấp ngân sách, không bị đánh đồng với huyện.

Các vấn đề tồn tại

Một là, chiến lược phát triển đô thị.

Đất nước đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng còn chậm chạp trong việc đê ra chiến lược phát triển đô thị nói chung và chiến lược phát triển kinh tế đô thị nói riêng. Do vậy, thiếu căn cứ thống nhất để xây dựng qui hoạch và hoạch định chính sách phát triển đô thị nhằm bảo đảm tính hệ thống, tính nhất quán của các quyết định về đô thị.

Hai là, sử dụng đất đô thị.

Hiện nay phần lớn các đô thị phát triển mạnh mẽ đều ở vùng đồng bằng là nơi đất nông nghiệp thuộc loại tốt. Đất đô thị trong nền kinh tế thị trường là hàng hoá, song đến Luật đất đai 1993 mới được đê cập. Xác định giá đất đô thị là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về sử dụng đất đô thị, nhưng hiện nay nước ta còn thiếu chuyên gia về lĩnh vực này và chưa được quan tâm nghiên cứu. Việc hình thành hệ thống địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị vẫn còn là một số tồn tại lịch sử, chưa có giải pháp hứu hiệu.

Ba là, phát triển nhà ở đô thị.

Nhà ở đô thị thời gian qua tuy được phát triển tương đối mạnh mẽ, nhưng diện tích bình quân đàu người vẫn còn thấp, ở mức gần 6m2/người. Đặc biệt nghiêm trọng là do chưa có qui hoạch, nên việc xây dựng nhà đô thị phần lớn mang tính tự phát, lộn xộn, mất trật tự, không mỹ quan. Chưa tổ chức tốt việc di chuyển dân để xây dựng nhà ở theo qui hoạch, nên đã làm cản trở tiến độ xây dựng công trình và nhiều khi tạo ra khu dân cư mới nhếch nhác, thiếu kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Bốn là, kết cấu hạ tầng đô thị.

Những năm qua, chính phủ và chính quyền địa phương đã cố gắng đầu tư cho kết cấu hạ tầng đô thị, nhưng chưa được cải thiện bao nhiêu, thậm chí C.Ó mặt còn tiếp tục bị xuống cấp. Trong nhđng yếu kém của kết cấu hạ tầng đô thi thì gay gắt nhất vẫn là các vấn đê giao thông, cấp nước sạch và thải nước bẩn, thu gom và xử lý rác thải.

Năm là, các vấn đề xã hội của đô thị.

Nạn thất nghiệp chưa được giải quyết bao nhiêu, nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả nên người lao động thu nhập thấp, đã tràn ra vỉa hè làm nghề buôn bán nhỏ, cắt tóc, sửa xe dể kiếm sống. Dân nông thôn kéo vào đô thị ngày càng đông, lang thang kiếm việc làm, đạp xích lô, xe ôm, ăn xin, đánh giầy … gây khó khăn cho quản lý nhân khẩu, đồng thời làm trầm trọng tình trạng lộn xộn, mất vệ sinh trên các đường phố. Nạn mua bán dâm, nghiện ma tuý, đánh bạc, trộm cắp, trấn lột dã làm sói mòn đạo đức xã hội.

Cuối cùng, tổ chức bộ máy hành chính đò thị.

Như Nghị quyết Trung ương VIII đã chỉ ra tổ chức bmáy quản lý hành chính của các đô thị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, công việc chồng chéo và nhiều khi cản trở lẫn nhau, hiệu lực và hiệu quả thấp. Nạn quan liêu, lãng phí, tham nhũng nghiêm trọng, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dẫn chủ còn yếu. Đội ngũ cán b, công chức nhìn chung chưa ngang tám nhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ thoái hoá biến chất. Hậu quả là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khi đem thực thi thường hay bị chậm chễ và bóp méo, trật tự kỷ cương xã hội bị sa sút đến mức lo ngại, các đơn tố cáo, khiếu nại của nhân dân ít được xử lý