Thực trạng sử dụng đất đô thị ở nước ta (P1)

Hiện trạng quỹ đất và quản lý đất đô thị của nuóc ta

Tính đến năm 1995, cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay là 61); 560 thành phố, quận, huyện, thị xã, trực thuộc cấp tỉnh. Cả nước có 521 đô thị lớn nhỏ, trong đó có 19 thành phố, 62 thị xã, 440 thị trấn.

Diện tích chiếm đất của các đô thị nước ta là 1.102.335 ha, bằng 3,3% đất tự nhiên của cả nước.

Trong đó:

– Đất đô thị vùng dồng bằng sông Hồng là 45.675 ha, bằng 3,6% diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long là 142.649 ha, bằng 3,6% diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng dông Nam Bộ là 167.875 ha, bằng 7,0%, diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng trung du, miền núi phía Bắc là 337.432 ha, bằng 3,2% diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng Tây Nguyên là 197.501 ha, bằng 3,5% diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng Khu Bốn cũ là 90.846 ha, bằng 1,7% diện tích toàn vùng.

–    Đất đô thị vùng duyên hải miền Trung là 119.847 ha, bằng 2,6% diện tích toàn vùng.

Bình quân chỉ tiêu sử dụng đất đô thị trên đàu người của nước ta là 60 m2. Hiệu qủa sử dụng đất đô thị chưa hợp lý và mức độ đô thị hoá còn thấp.

Mật độ đô thị phân bố giữa các vùng lãnh thổ của đất nước rất không đồng đêu:

–      Vùng   đồng bằng Bắc Bộ:                 4,64   dô thị/1000  km2.

–      Vùng   núi và trung du Bắc Bô:          1,17   đô thị/1000   km2.

–      Vùng   Thanh Nghệ Tĩnh:                  1,42    đô thị/1000  km2.

–      Vùng duyên hải nam Trung Bộ:          1,17 đô thị/1000km2.

–      Vùng   Tây Nguyên:                          0,66    đô thị/1000  km2.

–      Vùng   đông Nam Bộ:                        1,26    đô thị/1000  km2.

–      Vùng   tây Nam Bộ:                           2,37    đô thị/1000  km2.

Nhửng vùng đất có quần cư đô thị phát triển mạnh đều là những vùng tập trung quĩ đất đô thị tốt nhất như vùng dồng bằng sông Hồng, dồng bằng sông Cửu Long,

đông Nam Bộ. Hiện tượng ít nhiều mang tính tự phát này tuy là kết quả của một quá- trình điều chỉnh tự nhiên lâu dài và tương đối ổn định, nhưng đã để lại hậu quả là tài nguyên đất đai của đất nước chưa được khai thác và sử dụng hợp lý, nhất là khi áp dụng công nghệ mới để phát triển đô thị.

Công tác quản lý đất đai nói chung, đất đô thị nói riêng, có nhiều yếu kém, bất cập. Mãi đến ngày 14.7.1993 Luật Đất đai mới đề cập dầy đủ đến khái niệm đất dô thị, các chính sách tiếp theo mặc dù được xây dựng khẩn trương nhưng cũng gần một năm sau mởi được hình thành. Nghị định 60/CP ngày 5.7.1994 về quyền sở hứu nhà và quyền sử dụng đất đô thị; Nghị định 87/CP ngày 17.8.1994 của Chính phủ qui định khung giá các loại đất; Nghị định 88/CP ngày 17.8.1994 của Chính phủ ban hành điều lệ quản lý đô thị.

Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đô thị theo tinh thần của Nghị định 60/CP ngày 5/ 7/ 94 là một việc làm phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực của các quan hệ về bất động sản trên phương diện lịch sử, pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội, tốn nhiều công sức và tác động trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước và công dân, nó không chỉ đơn thuần là công tác quản lý nhà nước mà còn là hoạt động mang tính xã hội.

Đến giữa năm 1997 cả nước mới có 285 phường, thị trấn đã được đo vẽ xong bản đồ địa chính, với diện tích 82.000 ha. Trong đó khoảng 80.000 thửa phục vụ cho việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà theo Nghị định 60/CP của Chính phủ. Cả nước đang tiếp tục đo vẽ bản đồ địa chính nhưng mới chỉ đạt 10% điện tích tự nhiên ở các khu vực đô thị, việc cấp giấy uỷ quyền sử dụng đất, sở hữu nhà mới chỉ thực hiện được 10% diện tích đã được đo vẽ bản đồ địa chính. Riêng thành phố Hà Nội, tính đến hết tháng 3/1998 đã kê khai nhà ở, đất ở trên 87 phường, thị trấn, đạt 95,7%, phát 124.609 hồ sơ cho dân kê khai đạt 42,5%, thu về 25.023 hồ sơ. Hội đông đăng ký cấp phường, thị trấn đá phân loại được 3003 hồ sơ, trong đó hội đông cấp cơ sở tại duyệt được 616 hồ sơ, có 171 hồ sơ được chuyển lên cấp quận, huyện trong đó đã xét duyệt được 120 hồ sơ.