Thực trạng sử dụng đất đô thị ở nước ta (P2)

Những vấn đề tồn tại về sử dụng đất đô thị ở nước ta

Do có nhứng yếu kém nói trên về mặt quản lý mà việc sử dụng đất đô thị.còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm cần được nghiên cứu giải quyết.

Thứ nhất, tốc độ tăng đất đô thị không theo kịp tốc độ tăng dân số và phát triển kinh tế đô thị.

Tại thủ đô Hà Nội, hàng năm chuyển khoảng 30 ha đất nông nghiệp sang xây dựng các công trình nhằm phát triển đo thị, tuy vậy diện tích đất đô thị bình quân đàu người cũng chỉ đạt 50 m2 chỉ tiêu này so với diện tích đất sử dụng bình uân đầu người tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) là 79,5 m2 thì chỉ bằng 66%. Hơn nứa, bố cục sử dụng đất đô thị lại rất không đông đêu, quận Hoàn Kiếm lẩ nơi tập trung cao độ dân số và hoạt động kinh tế, diện tích đất sử dụng bình quân đàu người chỉ còn 25 m2, bằng 50%. chỉ tiêu chung về diện tích đất sử dụng trên địa bàn các khu đô thị của thành phố. Vì vậy, gây ra tình trạng chỗ ở chật chội, không gian cây xanh và nơi vui chơi giải trí bị thu hẹp, giao thông thường xuyên bị ách tắc và môi trường sinh thái bị suy thoái.

Tình hình này cũng diễn ra tương tự các đô thị lớn khác của nước ta. Ví như trong 12 quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh hiện cổ diện tích 14.037 ha, với số dân thường trú gần 4 triệu người, tính ra diện tích đất đô thị khoảng 45-47 m2/người; tại đây dân cư phân bổ tập trung vào một số khu vực. Có quận mật độ dân cư trền 55.000 ngưởi/km2, cộ phưởng lề n đến 150.000người/km2. Mật độ dân cư này còn cao hơn cả thành phố Thượng Hải (Tại Thượng Hải mật độ dân số khu vực trung tâm thành phố là 41.000 người/km2, trong đó khu Nam Thị là 86.400 người / km2, khu Hoàng Phố là 105.400 người/km2).

Thứ hai, tuỳ tiện chuyển đất nông nghiệp sang đất đô thị.

Dưới áp lực của đô thị hoá, nhiều diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, ven đô thị, ven đường quốc lộ, ven các trục giao thông chính chuyển thành đất đô thị, sự chuyển đổi này diễn ra một cách tràn lan và nghiêm trọng, hầu hết mang tính tự phát, không theo hưđng dẫn, không theo qui hoạch, trái pháp luật, làm giảm hàng vạn ha đất lúa nước, dễ dẫn đến nguy cơ mất an toàn lương thực quốc gia.

Năm 1985 so vđi năm 1980, đất trồng cây hàng năm toàn quốc giảm 5,88%, riêng đất trồng lủa giảm 7,89%. Nhứng năm gần đây, bình quân đất cho nhu cầu nhà mỗi năm tăng 15.000 ha, hầu hết lấy vào đất nông nghiệp. Phần lớn đất đô thị nằm vùng đồng bằng ven biển, có tốc độ tàng trưởng không gian nhanh từ 7 – 10 ngàn ha / năm. Tình trạng tuỳ tiện chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa sang đất đô thị một cách tràn lan đã làm cho đất nông nghiệp bị thu hẹp nghiêm trọng. Năm 1993 so với năm 1990, đất nông nghiệp ở dồng bằng sông Hồng giảm 79.697 ha, trong đó có 39.600ha đất luá; khu rvcũ giảm 17.655 ha, trong đó có 7.800 ha đất lúa; ở vùng duyên hải miền Trung giảm 7.138 ha, trong đó có 4.663 ha đất lúa.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng đất đô thị còn thấp.

Hệ số sử dụng đất đô thị nói chung thường dưới 1 Tân, rièng khu vực trung tâm của thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt 1,2 – 1,3 lần. Tầng cao xây dựng trung bình tại các đô thị chỉ khoảng 1,5 tầng, riêng Hà Nội đạt 2-3 tầng, thành phố Hồ Chí Minh đạt 4-5 tầng. Sự yếu kém của việc sử dụng đất đô thị được biểu hiện khá rõ nét’ở kết cấu sử dụng và bố cục không gian sử dụng đất đô thị còn nhiều bất hợp lý. Trong tổng diên tích đất đô thị, đất dành cho các hoạt động công thương chiếm tỷ lệ hơi cao, thường khoảng 25%; diện tích đất ở, đất giao thông, đất cây xanh hơi thấp. Tại phần lớn các đô thị nước ta hiện nay, diện tích đất chỉ khoảng 18- 20 m2 / người, diện tích đất giao thông chỉ khoảng 2 – 3 m2 / người, diện tích đất cây xanh chỉ khoảng 1,5 m2/ người. Chẳng hạn thành phố Nam Định, trong khi đất nông nghiệp và khó tàng là 5,7 m2 / người thì đất giao thông đối ngoại chỉ là 2,5 m2 / người. Hoặc như thành phố Vinh có diện tích tự nhiên là 6.100 ha, nằm trên trục đường 1A xuyên Việt và đường sắt Bắc Nam, trong vùng chịu ảnh hưởng của gió Lào (tây nam), mà diện tích đất giao thông chỉ 80 ha, diện tích đất cây xanh công viên chỉ 164 ha.

Phân vùng công năng đô thị rất không rõ ràng, trong các nhà máy, công xưởng có khu dân cư, trong khu dân cư lại có nhà máy công xưởng, đặc biệt là việc bố trí phân tán vào các quần thể nhà đô thị một số nhà máy, công xưởng gây ra ô nhiễm môi trường, uy hiếp sự bình yên và tác hại đến sứa khoẻ của nhân dân trong khu vực. Thí dụ: Trong nội thành Hà Nội, hiện vẫn còn một số nhà máy làm cho môi trường sinh thái bị ô nhiễm nặng riề mà chưa có cách giải quyết như nhà máy da Thuỵ Khuê, Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, Nhà máy Cao su Sao Vàng, Nhà máy Dệt 8.3, Nhà máy Rượu Hà Nội.

Thứ tư, quản lý sử dụng đất đô thị còn nhiều bất cập.

Ngày nay tại các đô thị nước ta tấc đất đã trở thành “tấc vàng”, nó có giá đắt hàng trăm lần so vđi đất nông thôn. Hiện tượng lấn chiếm đất công các đô thị đang diễn ra một cách phổ biến. Người sử dụng đất bất chấp pháp luật đã lấn chiếm vỉa hè, lấn chiếm đất trong hành lang an toàn đê diều, đường dẫn điện, hệ thống giao thông, cấp thoát nước, công sở, nhà ở, làm rối loạn trật tự đô thị, phá hỏng cảnh quan kiến trúc và gây ô nhiễm môi trường đô thị.

Trên địa bàn các khu vực đô thị nước ta, việc sử dụng đất còn thiếu căn cứ khoa học, nhất là thiếu qui hoạch chi tiết và dự án đâu tư. Tình trạng mua bán đất đai trao tay, không cần phép tắc trên thị trường ngầm xẩy ra thường xuyên không kiểm soát được, làm thất thu ngân sách nhà nước, rối loạn trật tự pháp luật và vi phạm nguyên tắc công bằng. Các tồn tại lịch sử về nhà đất chưa được giải quyết, nhất là việc đo đạc địa chính, xác định quyền sử dụng hợp lý của các tổ chức và cá nhân. Mặc dù Nghị định 60/CP ngày 5/ 7/ 94 của Chính phủ về quyền sở hứu nhà và quyền sử dụng đất đô thị đã được ban hành, nhưng đây là một công việc phức tạp, có thể được thực hiện trong một thời gian dài.

Một thách thức lớn đối với việc sử dụng đất đô thị hiên nay là sức ép tăng dân số cơ học. Mấy năm gần đây, cùng với sự phất triển kinh tế – xã hội trên địa bàn các dô thị, là tình trạng dân nông thôn đổ xô vào các đô thị, đặc biệt là các thành phố lớn, để tìm kiếm việc làm. Theo thống kê, riêng năm 1995 dân số thành phố Hà Nội tăng thêm 68.384 người, tương đương với dân số quận Tây Hồ, trong đó tăng dân sô’ cơ học xấp xỉ tăng dân sô’ tự nhiên, đạt tỷ lệ 1,4%, chưa kể 4 – 5 vạn người buôn bán thời vụ, cơ nhđ bám vào các khu trung tâm để kiếm sống. Dân cư vào thành phố tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành, đá làm cho mật độ dân cư nội thành cao gấp 10 lần so với ngoại thành. Tương tự như Hà Nội, số người nhập cư vào TP Hô Chí Minh để tìm việc làm bình quân mỗi năm 3 vạn người, hiện có khoảng 50 vạn … đã gây ra sự quá tải về nhà ở, giao thông, trường học, bệnh viện … đồng thời mang lại cho công tác quản lý thành phố những khó khăn mới.

Những người nhập cư vào đô thị, một sô’ người mua đất làm nhà, một số người chiếm đất làm nhà, làm cho diện tích đất sử dụng bình quân dầu người của đô thị ngày càng giảm bớt một cách nhanh chóng. Trước tình hình đó, quản lý tăng dân số cơ học trên địa bàn đô thị trở thành một vấn đề bức xúc.