Tiền đề chung của tăng trưởng kinh tế đô thị

Tiền đề chung của tăng trưởng kinh tế đô thị

Tiền đề chung của tăng trưởng kinh tế đô thị, xét từ bên ngoài đô thị, bao gồm 2 mặt sau đây:

Thứ nhất, tình trạng kinh tế và trình độ phát triển của các ngành kinh tế xung quanh đô thị.

Đô thị với tính cách là một thực thể kinh tế mở cửa, nó có mối liên hệ kinh tế rộng rãi với khu vực xung quanh. Đô thị cùng với khu vực xung quanh không chỉ hình thành chỉnh thể của hệ thống sản xuất, mà còn hình thành mạng lưđi thương nghiệp, dịch vụ, thông tin tương đối độc lập. Trong mối liên hệ kinh tế với khu vực xung quanh, đô thị do điều kiện kinh tế ưu việt của mình, nó có tác dụng thu hút và tác dụng khuyếch tán to lớn đối với khu vực xung quanh. Các điều kiện kinh tế đó chủ yếu là:

–   Hình thức công nghiệp hiện đại tiến bộ, có thể sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, có hiệu quả kinh tế tương đối cao;

–   Điều kiện kỹ thuật tiên tiến, làm cho đô thị có ưu thế cạnh tranh, do vậy có thể thu hút vào đô thị một số lượng lđn tài nguyên;

–  Hệ thống thương nghiệp, tiền tệ hoàn thiện, làm cho đô thị trở thành thị trường tài nguyên và sản phẩm rất lớn, do đó trở thành nơi tập trung các nguồn tài nguyên của khu vực;

–   Hệ thống dịch vụ hoàn hảo, tăng cường công năng và nâng cao hiệu suất của đô thị.

Mặt khác, tăng trường kinh tế đô thị lại chịu sự chế ước và ảnh hưởng của tình trạng kinh tế và trình độ phát triển của các ngành kinh tế của khu vực xung quanh. Không chỉ kinh tế đô thị gặp phải sự cạnh tranh của khu vực xung quanh đối với tài nguyên và các yếu tố sản xuất, hơn nứa trình độ phát triển các ngành kinh tế của khu vực xung quanh cúng ảnh hưởng đến thị phần chiếm lĩnh thực tế của đô thị.

Thứ hai, trình độ tương quan của kinh tế đô thị vđi nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng tới tốc độ và tính ổn định của tăng trưởng kinh tế đô thị.

Nhà kinh tế học người Anh Batơn dề ra 3 điều kiện bảo đảm cho tính ổn định của tăng trưởng kinh tế là:

–   Mức độ tương tự của cơ cấu kinh tế đô thị với cơ cấu kinh tế quốc dân. Tính tương tự này quyết định bởi độ nhạy cảm của kinh tế đô thị đối với tổng mức kinh tế quốc dân;

–   Tính co giãn về thu nhập của sản phẩm xíiất khẩu chủ yếu của đô thị. Tính co giãn thu nhập tương đối lớn chứng tỏ thu nhập quốc dân của đô thị có thể tăng trưởng càng nhanh so với thu nhập quốc dân của cả nước; còn tính co giãn thu nhập tương đối nhỏ nói lên rằng, sự tăng trưởng của xuất khẩu hàng hoá của đô thị càng gặp khó khăn;

–   Tính linh hoạt và tính nhạy cảm đối với sự biến động của kinh tế đô thị. Đô thị cần xây dựng một hệ thống các ngành kinh tế linh hoạt, năng động thì mới có thể thích ứng dầy đủ với yêu cầu biến đổi của thị trường, không ngừng đổi mới và hợp lý hoá hệ thống tổ chức các ngành kinh tế.

Do vậy, tính tương quan của kinh tế đô thị với riền kinh tế quốc dân, sẽ từ 2 mặt ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đô thị:

Mặt thứ nhất, sự khác biệt giữa trình độ chuyên môn hoá các ngành kinh tế đô thị với cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân. Sự khác biệt này không chì ảnh hưởng đến thị phần mà đô thị chiếm lĩnh trong thị trường quốc nội, dồng thời cũng ảnh hưởng đến độ nhậy cảm của kinh tế đô thị. Nói chung, kinh tế đô thị với trình độ chuyên môn hoá cao, có tính độc lập lđn và sức cạnh tranh thị trường mạnh, nhưng tính co giãn kém và tính thích ứng thị trường yếu.

Mặt thứ hai, tính không ăn khớp giứa chu kỳ đổi mđi các ngành kinh tế quốc dân sẽ giảm bớt sự ảnh hưởng của đại tuần hoàn đàu tư trong nước đối với tăng trưởng kinh tế đô thị, đồng thời cũng lan truyền đến sự biến đổi tính co giãn thu nhập của sản phẩm xuất khẩu của đô thị. Bởi lẽ, thị trường thống nhất quốc nội với chu kỳ đổi mới kinh tế quốc dân trên mức độ lớn là ăn khớp với nhau, cơ cấu của nhu càu thị trường về căn bản quyết định bởi cơ cấu và mức thu nhập, nhưng chịu sự ảnh hưởng rất lớn của hệ thống sản xuất.

Thực trạng của các ngành kinh tế đô thị

Về căn bản mà nói, sự tăng trưởng kinh tế của đô thị vẫn dựa trên cơ sở của sự tác dụng của cơ chế loại hình động lực và cơ chế loại hình công năng của nội bộ đô thị. Vì vậy, không nghi ngờ gì nữa, thực trạng của các ngành kinh tế đô thị sẽ trên một mức độ lớn ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị. Ở đây, từ giác độ tăng trưởng kinh tế đô thị tiến hành phân tích một số đặc điểm và vấn đê của các ngành kinh tế đô thị nước ta hiện nay.

Thứ nhất, sự xung đột giữa các ngành kinh tế hiện đại, quan sát từ mặt cắt ngang của lịch sử phát triển kinh tế đô thị, thì vô luận về mặt kỹ thuật hay về hệ thống tổ chức, hai cái đêu biểu hiện thành sự vận động đối lập. Vđi một cơ cấu đầu tư nhất định, phân ngạch do các ngành kinh tế truyền thống chiếm giữ và phân ngạch do các ngành kinh tế hiện đại chiếm giữ là đối lập với nhau, hơn nữa về xu thế biến đổi hai cái biểu hiện rõ ràng là cái này mất đi thì cái kia sinh ra.

Nhưng xét từ chiều dọc của lịch sử phát triển kinh tế đô thị, thì trong dây xích diễn biến của các ngành kinh tế đô thị, sự tồn tại của các ngành kinh tế truyền thống, thường là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các ngành kinh tế hiện đại. Đô thị lớn mở cửa của Việt Nam cũng giô’ng như các đô thị lớn của các quốc gia trên thế giới, đều là sản phẩm trực tiếp của đại công nghiệp cơ khí, sự phát triển lớn mạnh của các ngành kinh tế truyền thống vẫn là nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng kinh tế đô thị, tạo tiền đề cho việc chấn hưng các ngành kinh tế hiện đại bằng điện tử, tin học, vật liệu mới.

Thứ hai, sự va chạm giữa ngành kinh tế chủ đạo với ngành kinh tế cơ sở. Nói chung, ngành kinh tế chủ đạo là ngành kinh tế có tỷ trọng giá trị lớn, tiến bộ kỹ thuật nhanh, tính năng cơ sở tốt trong nền kinh tế đô thị. Nó có 3 đặc điểm lớn: ngôi thứ kinh tế cao; liên hệ kỹ thuật mạnh; ảnh hưởng và tác dụng đối với các ngành kinh tế khác lớn. Một đô thị muốn bảo đảm cho nền kinh tế của mình được tăng trưởng bền vứng, phải xây dựng cho mình ngành kinh tế chủ đạo mang mầu sắc riêng, có tính ổn định tương đối.

Đồng thời, ngành kinh tế chủ đạo cần phát triển cân đối với các ngành kinh tế cơ sở. Trước đây có thời gian ở các nước XHCN truyền thống, trong đó có Việt Nam, Trung Quốc đằ từng nhấn mạnh phiến diện công nghiệp nặng và coi nhẹ công nghiệp nhẹ, trong công nghiệp nặng lại nhấn mạnh quá mức công nghiệp gang thép và công nghiệp cơ khí chế tạo, coi nhẹ các ngành công nghiệp cơ sở như nhiên liệu, vật liệu, động lực, giao thông. Sự phát triển chậm chạp của các ngành kinh tế cơ sở, đã làm cho trên phạm vi toàn xã hội có nhiều loại hàng cung không kịp càu, hạn chế sự tăng trưởng kinh tế của toàn bộ đô thị.

Thứ ba, sự va chạm có tính thay thế giứa dầu tư xây dựng mới với dầu tư cải tạo. Cải tạo và xây dựng mới là hai hình thức khác nhau của xây dựng và phát triển đô thị, cái trước là tăng trưởng nội hàm, cái sau là tăng trường ngoại diên. Tính tất yếu của cải tạo và xây dựng mới, quyết định trình dộ thích ứng của chu kỳ vận động của các ngành kinh tế đô thị với trình độ kỹ thuật của các ngành kinh tế và xã hội hoá trong sản xuất. Tỷ lệ giữa cải tạo và xây dựng mới, thì quyết định bởi tỷ lệ chiếm giứ của ngành kinh tế truyền thống trong các ngành kinh tế đô thị. Trong tổng mức đầu tư của đô thị trong một thời kỳ nhất định biểu hiện thành cái này giảm thiểu thì cái kia gia tăng.

Các ngành kinh tế đô thị Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ các ngành thâm canh sức lao động

sang các ngành thâm canh vốn và chất xám. Trong điều kiện phần lớn các doanh nghiệp đô thị nước ta thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, năng lực công đoạn không cân đô’i, thì cải tạo trở thành một yêu cầu bức xúc, có tính chiến lược của tăng trưởng kinh tế đô thị.