Tình hình phát triển đô thị hoá thế giới

Tình hình phát triển đô thị hoá thế giới

Công nghiệp hoá mang lại động lực cho đô thị hoá, đó là đặc trưng cơ bản của đô thị hoá thế giới, đặc biệt là đô thị hoá của các nưdc phát triển, từ thế kỷ XVIII trở lại đây. Nhưng ở các quốc gia và khu vực khác nhau, do có sự chênh lệch về tiến trình và trình độ công nghiệp hoá, cùng với sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá, xã hội, nên tồn tại những khác biệt rất lđn trong quá trình đô thị hoá, dù rằng trong hệ thống nội bộ các nước phát triển phương Tây, đô thị hoá cũng có thể phân giải thành các hình thức khác nhau. Do vậy, chúng ta có đem hiện tượng đô thị hoá thế giới phân ra thành 3 loại hình cơ bản và tiến hành phân tích những đặc điểm của chúng.

Đô thị hoá cùa các nước phát triển

Như trên đã trình bày: công nghiệp hoá bắt đàu từ nước Anh, đô thị hoá cũng sớm bắt dầu từ nước Anh. Sau thế kỷ XIX, song song với việc hoàn thành cách mạng công nghiệp ở các nước tư bản chủ yếu, đô thị hoá thế giới bước vào cao trào mới. Ví như nước Mỹ trong các năm 1790, 1840 và 1890, con số đô thị phân biệt là 24 cái, 131 cái và 1384 cái; tỷ trọng dân số đô thị trong tổng số dân số cả nước phân biệt là 5,1%, 10,8% và 35,1%. Trong vòng 100 năm, con số đô thị đại thể cứ 20 năm tăng 1 lần, còn tỷ trọng của dân số đô thị ở nửa dầu thế kỷ khoảng cứ 40 năm tăng gấp đôi, ờ nửa sau thê’ kỷ ước cứ 20 năm tăng gấp đôi, tức tốc độ nửa sau thế kỷ cao hơn nửa trước thế kỷ 1 lần. Chỉ có Nhật Bản là ngoại lệ, một mặt cách mạng công nghiệp Nhật Bản bắt đầu chậm, mặt khác Nhật Bản vđi điều kiện kinh tế đặc biệt về nông nghiệp, tài nguyên và đặc điểm về tổ chức xã hội, văn hoá xã hội của các nước phương Đống, có tính hạn chế tương đối lớn đối với đô thị hoá của họ.

Tóm lại, đô thị hoá của các nước phát triển có các đặc điểm sau:

– Tác dụng của công nghiệp hoá đối vđi đô thị hoá rõ ràng, đặc biệt là cuộc cách mạng về khoa học công nghệ và phương tiện giao thông vận tải, trở thành điều kiện cần phải có của công nghiệp đại cơ khí.

–   Sự mở rộng của qui mô đô thị chủ yếu là sự bành trướng của hệ thống sản xuất đô thị, hoặc là lực hút của điều kiện sản xuất đô thị.

–   Tính chất và hình thái kinh tế của đô thị không ngừng được cải tạo, trạng thái bố cục của nó biến đổi song song với sự biến đổi của hệ thống và cơ cấu công nghiệp.

–   Đô thị hoá phá vỡ phương thức sản xuất nỏng nghiệp vốn có, xây dựng và tổ chức hệ thống nông nghiệp hiện đại (Nhật Bản ngoại lệ), nông nghiệp được phát triển nhanh chóng.

Đô thị hoá của các nước đang phát triển

Các nưđc đang phát triển trong một thời gian dài là thuộc địa hoặc bán thuộc địa của các nước phát triển, cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế gặp phải nhiều hạn chế và giật lùi, do đó cản trở quá trình đô thị hoá của các nước này. Đồng thời với việc tăng trưởng với tốc độ cao dân số đô thị của các nước phát triển do công nghiệp hoá hay do dân số nông thôn nhập cư vào đô thị gây ra, dân số đô thị của các nước đang phát triển dựa vào tăng trưởng tự nhiên mà gia tăng chậm chạp. Thí dụ: Dân số đô thị của các nước phát triển năm 1900 là 1443 ngàn người, năm 1940 tăng lên 3413 ngàn người, bình quân mỗi năm tăng 49,3 ngàn người, dân số đô thị của các nước đang phát triển năm 1900 là 288 ngàn người, năm 1940 tăng lên 462 ngàn người, bình quân mỗi năm tăng 14,4 ngàn người.

Từ sau Thế chiến II tđi nay, các nước đang phát triển lần lượt thoát khỏi hệ thống chính trị của các nước thực dân, đấu tranh giành độc lập dân tộc, làm cho đô thị hoá phát triển nhanh chóng, thu được những thắng lợi to lớn trong một thời gian ngắn. Đô thị hoá của các nước đang phát triển ở thời kỳ sau chiến tranh có các đặc điểm:

–  Dân số đô thị tăng trưởng nhanh chóng. Trong thời gian từ năm 1950 đến năm 1975, dân số đô thị khu vực phát triển của thế giới từ 460 triệu người tăng lên 790 triệu người, còn dân số đô thị khu vực đang phát triển từ 259 triệu người tăng lên 771 triệu người.

–  Tính tập trung của dân số đô thị mạnh, ngôi thứ của đô thị lớn cao. Cũng từ năm 1950 đến năm 1975, ở khu vực phát triển, năm 1950 có 43 đô thị, năm 1975 là 91 đô thị, tốc độ tăng bình quân mỗi nãm là 1,7 đô thị; ở khu vực đang phát triển, năm 1950 có 23 đô thị, năm 1975 là 90 đô thị, bình quân mỗi năm tăng 2,7 đô thị. Ta thấy, sự tăng trưởng dân số đô thị của khu vực đang phát triển chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn.

–  Đồng thời vđi sự phát triển đô thị hoá, sản xuất nông nghiệp có sự biến đổi không lớn, làm nghiêm trọng sự nghèo khổ tương đối về kinh tế của nông thôn, gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng công nghệ.

–  Kết cấu hạ tàng đô thị và cơ hội tìm được việc làm không theo kịp sự gia tăng của dân số đô thị, xuất hiện một mảng lớn các khu nghèo khổ trong đô thị

Đô thị hoá của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu

Sự phát triển kinh tế của Liên Xô cú và các nước Đông

Àu có một lịch sử tương đối dài, ở một số giai đoạn trước đây đã từng ngang hàng với các nước Trung, Tây Âu. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở Đông Âu, cơ sở kinh tế hùng hậu và đô thị hoá hiện đại của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu hoà làm một, xuất hiện hình thức đô thị hoá vừa khác vđi các nước phát triển phương Tây, vừa khác với các nước đang phát triển.

Đặc điểm chủ yếu của đô thị hoá xã hội chủ nghĩa của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, được biểu hiện chủ yếu ở việc Nhà nước và chính quyền đô thị chỉ đạo cồng tác đô thị hoá, và đô thị hoá được phát triển theo kế hoạch. Dưới sự thúc đẩy của công nghiệp hoá và sự chỉ đạo của chính sách đô thị hoá của Nhà nước, dân số đô thị tăng trưởng một cách ổn định, mức độ đô thị hoá luôn luôn cao. Từ năm 1950 đến năm 1970, tỷ trọng dàn số đô thị từ 42,4% tăng lên 54,6%, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của dân số đô thị luôn luôn ổn định khoảng 2%. Trong đó, tỷ trọng dân số đô thị của Liên Xô cũ từ 42,5% năm 1950 tảng lên 62,3% năm 1970.

Một đặc điểm khác của đô thị hoá của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu là các nước này luôn luôn coi trọng việc qui hoạch xây dựng đô thị, kết cấu hạ tàng tương đối hoàn thiện, trình độ hiện đại hoá đô thị tương đối cao. Đồng thời, do các nước này xử lý tương đối tốt mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn, tăng cường quản lý về qui hoạch đối với hệ thống đô thị, do đó mà khống chế được vấn đề đô thị tập trung quá mức, trong số 25 thành phố cực lớn của thế giới, khu vực Liên Xô cú và Đông Âu chỉ có một là Maxcơva.

Xu hướng phát triển đô thị hoá thế giới

Sự phát triển của đô thị hoá thế giới có thể xuất hiện cac xu hướng sau đây:

Các đô thị lớn tiếp tục phát triển mạnh mẽ

Năm 1800 trên thế giới chưa có đô thị lớn tới 1 triệu dân. Số đô thị trên 1 triệu dân của năm 1900 là 15, năm 1950 là 71 và năm 1982 là 207. Số đô thị trên 5 triệu dân của năm 1950 là 6, năm 1982 là 25. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (1991) thì đến năm 2000, con số này là 79. Trong đó, châu Á- 39; châu Mỹ- 21; châu Âu- 9; châu Phi- 8; châu ức- 

Nguyên nhân quan trong của việc phát triển nhanh chóng các đô thị lớn là ở chỗ: Đô thị hoá của các nước đang phát triển sẽ trở thành hình thức chủ yếu của gia tăng dân số đô thị thế giới, mà đặc điểm bản thán đô thị hoá của nhiều nước đang phát triển, dân số các đô thị lớn sẽ tăng càng nhanh so với các đô thị nhỏ. Dự tính đến cuối thế kỷ này trên thế giđi sẽ có 5 siêu thành phố có dân số trên 15 triệu người, trong đó có 4 ở các nước đang phát triển. Các siêu thành phố được phân bổ như sau:

Tình hình phát triển đô thị hoá thế giới 1

 

Vậy, làm như thế nào đế khống chế có hiệu quả dân số của các đô thị lớn, thực thi chiến lược phát triển dân sô’ của các đô thị vừa và nhỏ, sẽ là một đề mục quan trọng mà các nước đang phát triển phải đối mặt trong một thời gian dài về sau này.